THẦY, CÔ THƯỞNG TRÀ

LY CÀ PHÊ VỊ ĐƯỢM

Liên kết website

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GD

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC PHÒNG

Tài nguyên dạy học

TIN TỨC GIÁO DỤC

Điều tra ý kiến

Bạn truy cập trang web của Câu lạc bộ Violet Hải Dương là nhằm mục đích
Giao lưu, học hỏi, giúp đỡ đồng nghiệp.
Thư giãn sau các giờ căng thẳng.
Chỉ để tải tài liệu của CLB.
Xây dựng cộng đồng Violet Hải Dương đoàn kết, thân ái.
Một lí do khác.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Khách đến Câu lạc bộ

    13 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với CLB Giáo viên Hải Dương.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11

    HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    buoi-hoang-hon-cua-nhung-than-tuong

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
    Ngày gửi: 09h:29' 06-03-2026
    Dung lượng: 475.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Giới thiệu sách
    BUỔI HOÀNG HÔN CỦA NHỮNG THẦN TƯỢNG (hay “Làm cách nào
    triết lí với cây búa”)
    Friedrich Nietzsche
    Nguyễn Hữu Hiệu dịch và giới thiệu
    Tên sách: Buổi hoàng hôn của những thần tượng
    Tác giả: Friedrich Nietzsche
    Dịch và giới thiệu: Nguyễn Hữu Hiệu
    Thể loại: Triết học
    Nhà xuất bản: Văn Học
    Năm xuất bản: Qúi II -2006
    Khổ: 12x20 cm
    --------------------Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    Chuyển sang ebook: tovanhung (TVE)
    Ngày hoàn thành: 11/8/2006

    1. Năm 1888 trong cuộc đời và tư tưởng Nietzsche
    Mặt trời lên cao đỉnh rồi bùng vỡ trong Van Gogh trong năm 1888. Đó cũng
    chính là thời kì sáng tạo dữ dội nhất của ông. Bóng tối lưỡng lự đã bị lùa ra
    khỏi tranh. Bàn tay trở nên chính xác một cách tàn bạo. Nét cọ tung hoành
    như sấm sét. Màu sắc loé sáng trong khi tâm trí đã bắt đầu hôn ám. Nhưng
    trong buổi hoàng hôn của tâm thức đó, viễn tượng đã kết hợp một cách kì
    diệu với thực tại. Ngày 21 tháng 4 năm sau, Van Gogh viết cho em: “Điều an
    ủi anh đôi chút là anh bắt đầu coi sự điên cuồng như một chứng bệnh giống
    như những bệnh tật khác, trong khi đó ngay cả trong những cơn khủng
    hoảng, anh thấy dường như tất cả những gì anh tưởng tượng trước kia đều là
    thực tại cả.” Và ông lăn xả vào công việc, vẽ từ sáng tới tối. Người ta kể lại
    rằng những người bạn đồng phòng với ông khi đi ra thấy ông đang vẽ một
    tấm tranh, vài giờ sau trở vào đã thấy ông vẽ một tấm tranh khác. Ông làm
    việc như kẻ bị quỉ ám, “ j'ai une fureur sourde de travail plus que jamais ”
    (9/1889). Ông không thể ra khỏi hội hoạ, nghĩa là ra khỏi thực tại, làm mồi
    cho điên cuồng và phiền não. “Trong tất cả mọi trường hợp, tìm cách trung
    thành với sự thực có lẽ là một phương thuốc để chống lại bệnh tật đang làm
    anh lo âu” (thư cho Théo, 12 tháng 2 năm 1890). Có lẽ Vincent van Gogh
    linh cảm thấy rằng phần ánh sáng dành cho ông sắp hết và ông phải tận dụng
    nó, nhìn lần cuối cùng trong ánh sáng viễn tượng những thực tại đã bị thói
    quen giả dối chôn vùi. Trường hợp Nietzsche cũng tương tự như vậy. Năm
    1888 là cực điểm sáng suốt và sáng tạo của Nietzsche, đồng thời cũng là cực
    độ của đau khổ và cô đơn của ông. Ngày 12 tháng 2 năm 1888, Nietzsche
    viết cho bá tước Seydlitz: “Bây giờ tôi cô đơn, cô đơn một cách phi lí; trong
    cuộc chiến tàn khốc và âm thầm mà tôi theo đuổi (dưới uy thế Đảo Hoán mọi
    Giá Trị) chống lại tất cả những gì đã được mọi người tôn sùng và quí trọng
    từ xưa tới nay, chính tôi đã trở thành một cái u hồn cốc mà không hay…”
    Trong tình cảnh đó ông chỉ cầu xin một điều: “Sự thanh bình, quên lãng, sự
    khoan dung của mặt trời và của mùa thu cho một cái gì đang muốn chín tới,
    cho sự chứng thực và biện minh của toàn thể con người tôi…” (thư cho Paul
    Dessen, 3 tháng Giêng năm 1888). Kết quả là năm tác phẩm cuối cùng, chín
    mùi nhất, mãnh liệt nhất của Nietzsche hoàn thành trong năm này: Trường
    hợp Wagner, Hoàng hôn của những thần tượng, Kẻ chống Chúa, Nietzsche
    chống Wagner, Ecce Homo và tụng ca Dionysos.
    Quả thực năm 1888 là cực điểm của cuộc đời và tư tưởng Nietzsche. Trước
    hết nó là cao độ của một thập niên đầy sáng tạo khởi đầu từ 1878 với Phàm
    phu, quá phàm phu , tác phẩm đầu tiên mà trong đó chan hoà ánh sáng thiên
    tài, kế đó Ý kiến tương hợp và châm ngôn (1879), Lữ khách và bóng hình

    mình (1880), Bình minh (1881), Tri thức hân hoan (1882 - bổ túc thêm năm
    1887), Zarathustra đã nói như thế (1883–1885), Phi thiện ác (1886) và Phổ
    hệ luân lí (1887). Song song những tác phẩm trên, trong nhiều thập niên này
    Nietzsche còn đưa ra nhiều tư tưởng dũng mãnh quanh chủ đề Ý chí hùng
    cường . Sang năm 1888, Nietzsche bỏ Ý chí hùng cường và thay thế bằng
    Cuộc đảo hoán mọi giá trị , trong đó Kẻ chống Chúa , là tác phẩm mở đầu.
    Năm 1888 còn có ý nghĩa cực điểm trong cuộc đời và tư tưởng Nietzsche ở
    chỗ toàn bộ tác phẩm viết trong năm này là những cuộc duyệt xét lại và toát
    lược lại toàn thể những chủ đề triết lí của ông và của hai ngàn năm triết học
    Tây phương trong ánh sáng chói loà cuối cùng của tâm thức, ở một cao độ
    buốt giá, bằng một bút pháp sắc bén, cô đọng. Sau đó là bóng tối và yên lặng
    hoàn toàn. Đầu tháng Giêng 1889, tinh anh ông đã vỗ cánh bay cao, và ông
    không viết thêm một dòng nào nữa mặc dầu thể phách còn ngồi lại mười
    năm nữa, tới tháng 8 năm 1990.

    2. Buổi hoàng hôn của những thần tượng
    Tác phẩm Buổi hoàng hôn của những thần tượng hay làm cách nào người ta
    triết lí với cây búa? (Götzen-Dämmerung, oder: Wie man mit dem Hammer
    philosophiert?) được viết trong khoảng thời gian từ cuối tháng Sáu tới đầu
    tháng Chín năm 1888 và được đem ấn hành vào tháng Mười cùng năm. Mới
    đầu tác phẩm mang tựa đề Sự nhàn rỗi của một tâm lí gia hay Những giờ
    nhàn cư của một tâm lí gia ( Müssiggang eines Psychologen ). Nhưng sau
    đó, theo lời yêu cầu của Peter Gast, một cao đồ trung thành của Nietzsche,
    đòi ông phải tìm một tựa đề “huy hoàng” hơn cho tác phẩm, Nietzsche
    nhượng bộ, phỏng theo nhan đề vở Hoàng hôn của những thần thánh (
    Götterdämmerung ) của Wagner, đặt lại là Hoàng hôn của những thần tượng
    (Götzen-Dämmerung).
    Thần thoại Bắc Âu kể rằng tất cả mọi thần thánh đều có ngày tàn mạt, ngày
    họ tan biến vào hư vô. Đó là buổi hoàng hôn của thần thánh. Richard
    Wagner đã mượn thần thoại này để dựng vở kịch thứ tư trong bộ Tứ ca bộ
    kịch (Tétralogie) của ông, Nietzsche thay đổi tựa đề và cả ý nghĩa. “Thần
    tượng” là biểu tượng Nietzsche dùng để chỉ chân lí. “Buổi hoàng hôn của
    những thần tượng” có nghĩa là sự sụp đổ của mọi chân lí.
    Không một thực tại, một ý tưởng, một lí tưởng, một chân lí, một “thần
    tượng” nào tác phẩm này không chạm tới. Từ những chân lí vĩnh cửu đến
    những chân lí, giá trị mới mẻ. “Một cơn gió lớn thổi qua rặng cây… và trái
    chín rụng rơi tơi tả: những chân lí”. ( Ecce Homo ). Nhưng những cái người
    ta có thể lượm trong tay chẳng có gì ngọt ngào. Vì đó chỉ là những trái thối
    hư, thực phẩm vô vị đã hết dưỡng chất của hai ngàn năm qua cần phải liệng
    bỏ. Tất cả mọi chân lí đều nhạt phai và phải xoá đi, mọi thần tượng đều hết
    thiêng liêng và phải tiêu diệt. Duy chỉ có cuộc đời là vĩnh cửu. Tất cả mọi
    hiểu biết đều sai lầm, mọi luân lí đều độc hại. Duy chỉ có bản năng là tốt
    lành.
    Đây là cuộc Tuyên chiến vĩ đại. Đây là cuộc mổ xẻ tàn nhẫn lí trí, luân lí,
    tâm lí học, lòng ái quốc, vị tha, tình nhân loại… Đây là cuộc lột mặt nạ
    không thương tiếc những nhân vật, “những thần tượng” tượng trưng cho
    những chân lí, những giá trị cũ: Socrate, Platon, thiện ác, đẹp xấu… và
    những “thần tượng” tượng trưng cho những chân lí và giá trị mới: Renan,
    Rousseau, Sainte-Beuve, G. Eliot, George Sand, Schopenhauer, Comte,
    Kant, Schiller, Zola, Victor Hugo, Listz, Carlylle, nghệ thuật vị nghệ thuật,
    dân chủ, tiến bộ… Trên tất cả, chúng ta tìm thấy trong tác phẩm này những
    tư tưởng hữu thể học quan trọng nhất của Nietzsche. Đúng hơn, chúng ta

    thấy những diễn dịch về những vấn đề cốt yếu từ quan điểm biến dịch siêu
    hình của ông dựa trên phương trình căn bản cũng là tiền đề của ông - là: hữu
    thể học truyền thống coi là “hữu thể chân thực” (Wahres-Sein) cái thực ra
    chỉ là một ảo tưởng, một ảo tưởng có tất cả đặc tính của phi thể (Nicht-Sein)
    và vô thể (Nichts) và chối bỏ, coi như “phi hữu” và phi thực cái thực ra là
    hữu thể đích thực và hữu thể duy nhất. Cái từ xưa tới nay, người ta coi là
    hiện thể đích thực, thực ra chỉ là mộng huyễn bào ảnh, trong khi cái từ xưa
    tới nay người ta coi là mộng huyễn bào ảnh lại chính là hiện thể chân thực.
    Cái từ xưa tới nay được coi là “hữu thể” (Sein) đối nghịch với biến dịch
    không có, trong khi chỉ có cái biến dịch hiện hữu mà thôi. Không có “hữu
    thể” siêu thời gian và không gian, cũng như không có tâm linh thế giới, Linh
    tượng giới (le monde des idées) hay thế giới của những ý tưởng vĩnh cửu mà
    chỉ có thế giới khả giác (monde sensible), hiện hữu trong không gian thời
    gian. Không có thế giới tự nội (monde en-soi), mà chỉ có thế giới hiển lộ
    (monde des apparences). Không có thế giới khác mà chỉ có thế giới này , thế
    giới chân thực, duy nhất, linh động mà nguyên động lực là ý chí hùng dũng.
    Không có thế giới nào khác . Tất cả những ý nghĩ, khát vọng về một thế giới
    khác chỉ là cách trả thù cuộc đời “bằng sự lạm dụng ảo tưởng” về một cuộc
    đời “tốt đẹp hơn”. Sự chia thế giới ra làm một thế giới “tự nội” và một thế
    giới “bề ngoài” là dấu hiệu của sự suy đồi - một triệu chứng của sa đoạ. “Sự
    kiện người nghệ sĩ đặt bề ngoài lên trên thực tại không phải là một vấn nạn
    chống lại mệnh đề này. Bởi “bề ngoài” ở đây cũng có nghĩa là thực tại nữa ,
    nhưng mà là dưới một hình thức lựa chọn, kiên cường hoá, sửa sai… Người
    nghệ sĩ bi tráng không bi thảm,- hắn gật đầu nói “ừ” trước tất cả những gì
    còn hồ nghi và khủng khiếp của cuộc đời, hắn là kẻ theo Dionysos”.
    Chương quan trọng nhất và cũng là trọng tâm của tác phẩm là chương “Lí trí
    trong triết học”. Trước đó là “Vấn đề Socrate”, sau đó là “Luân lí như một
    cái gì phản tự nhiên”. Trước kia Nietzsche lên án khoa học, triết học vì
    chúng bị đầu độc bởi luân lí. Bây giờ Nietzsche lên án luân lí, triết học, khoa
    học bởi chúng bị đầu độc bởi lí trí, hay đúng hơn, bởi những sự lầm lẫn lớn
    lao của lí luận. Những triết gia lầm lẫn lấy hậu quả làm nguyên nhân, nguyên
    nhân làm hậu quả. Nietzsche bài bác gắt gao phương trình quái gở và bệnh
    hoạn này của Socrate: lí trí = đức hạnh = hạnh phúc. Socrate, Platon là
    những triệu chứng suy đồi. Thế nào là suy đồi (décadence)? “ Bị bắt buộc
    phải chiến đấu chống lại bản năng đó là định thức của suy đồi, khi cuộc đời
    hướng thượng, hạnh phúc và bản năng là một.” Tất cả mọi sự tốt lành đều
    thuộc bản năng. Alles Gute ist Instinkt . Nietzsche coi như có bổn phận
    chống lại quan niệm cho Thượng Đế = thế giới khác của “hữu thể chân
    thực”. Vì quan niệm như thế, người ta bắt buộc phải coi rẻ những thực tại
    trần gian mà giác quan chứng nghiệm, khi coi chúng là hiển thể (Schein)

    không thực thể, và đi đến chỗ khước từ cuộc sống nhục cảm, lành mạnh, coi
    như “tội lỗi”. Theo Nietzsche, với Thượng Đế, người ta đặt thành tuyệt đối
    thể một hữu thể tưởng tượng, phi thời gian bên trên những thực tại trần gian,
    những cái duy nhất có thực thể trong dòng biến dịch. Một Thượng Đế, nếu
    được quan niệm như thế, sẽ làm nền tảng cho một thứ luân lí vô cùng nguy
    hại cho con người và cuộc đời. Đó là một hữu thể học luân lí hoá hay một
    luân lí hữu thể học hoá. Cần phải giải phóng hiện thể khỏi thứ hữu thể học
    hay luân lí này. Đó là một nhiệm vụ nặng nề mà Nietzsche gọi là cuộc “Đảo
    hoán mọi giá trị”. Đó là công việc của người nghệ sĩ bi tráng, kẻ nói “ừ”
    trước tất cả mọi hồ nghi và khủng khiếp. Người nghệ sĩ bi tráng chọc thủng
    hiển thể để đạt tới thực thể một cách can đảm. Hắn dám chấp nhận cái chết
    của Thượng Đế và dám đập “bằng cây búa” tất cả những chân lí cắm rễ sâu
    nhất trong lòng đời và dám đốn ngã những thần tượng được tôn kính của
    truyền thống và thừa can đảm để gây nên những “âm thanh trống rỗng” của
    buổi chiều tà. Đi vào “Hoàng hôn của những thần tượng” và đương đầu với
    “Đêm tối của Hư vô chủ nghĩa” là những sứ mệnh lịch sử của người nghệ sĩ
    bi tráng cũng như của tất cả những tinh thần tự do không chấp nhận làm rêu
    mốc bám trên những bậc thềm, những bờ tường nứt nẻ của những miếu
    đường hoang vắng nữa. Nếu “Hoàng hôn của những thần tượng” có nghĩa là
    sự lạm phát của mọi chân lí, mọi giá trị thiết định lấy “thế giới chân thực”
    bên ngoài trần gian, bên kia đời sống làm bản vị, coi những kẻ bạc nhược sa
    đoạ là những kẻ làm giấy bạc, coi đền thờ là những ngân hàng và Thượng Đế
    là kẻ chế tài thì “Đêm tối của Hư vô chủ nghĩa” chính là sự phá giá của tất cả
    những chân lí, những giá trị đó. Cả hai đều là những giai đoạn tất yếu và cần
    phải vượt qua của lịch sử. Chân lí, trần gian, cuộc đời sẽ và chỉ thuộc về
    những kẻ chân thực, dám đốt đi những bản di chúc hứa hẹn huy hoàng
    nhưng giả dối và giả tạo như tấm ngân phiếu không tiền bảo chứng, những
    kẻ sau khi buông rời cây búa phá huỷ còn đủ sức mạnh cầm tay cầy khai phá
    cánh đồng khả thể, khơi mở dòng đời, tạo dựng đời sống trong dòng Hồn
    nhiên của Biến dịch.

    3. Song luận
    Sự thức tỉnh của nhân loại bắt đầu với song luận này: “Hoặc chúng ta phá
    huỷ sự sùng bái của chúng ta hoặc chúng ta phá huỷ chính chúng ta” (Der
    Will zur Macht, III) Chúng ta đã phải trả giá khá đắt cho những “chân lí”
    thiêng liêng, những sai lầm in physiologicis (Ibid, II) Nietzsche tự coi như
    bổn phận việc “sửa soạn cho nhân loại một giây phút tuyệt vời trở về chính
    mình, một buổi giữa ngọ rực rỡ để quay về quá khứ và đưa mắt nhìn về
    tương lai, để rũ khỏi ách đô hộ của tình cờ và của những giáo sĩ và đặt câu
    hỏi tại sao và thế nào trong toàn bộ của nó lần thứ nhất, bổn phận này thiết
    yếu bắt nguồn từ lòng xác tín rằng nhân loại tự mình đã không đi theo đúng
    chính đạo, đã không được điều động bởi một thần tính mà trái lại đã để bị lôi
    cuốn và chế ngự bởi một bản năng tiêu cực, hư hỏng, bởi bản năng suy đồi
    mà nhân loại đặt lên hàng những giá trị tối thiêng liêng” (Ecce Homo , III,
    2), vì thế “sự khôn ngoan xuất hiện trên trái đất này từ xưa tới này như một
    con quạ khoang bị hấp dẫn bởi mùi tử khí”, hay cũng có thể nói như một con
    cú vọ chuyên soi mói những khía cạnh đen tối cuộc đời và thốt lên những
    tiếng bi ai. Đó là sự khôn ngoan của tinh thần nặng nề, tìm sự giải thoát bằng
    cách tiêu diệt ý chí sống. Nietzsche gây chiến chống lại chủ trương tiêu cực
    mệt mỏi đó. Kết quả của nỗ lực bền bỉ, can đảm, cứng cỏi, âm thầm này là sự
    hân hoan hay “ tri thức hân hoan ” theo ngôn ngữ Nietzsche. “Kẻ nào trèo
    lên núi cao, kẻ ấy tự cười mọi bi kịch giả tạo hay có thực.” Trên bàn thờ
    những giá trị mới, tiếng cười chiến thắng đã thay thế tiếng thở dài đầu hàng.
    “Tôi đã phong thánh tiếng cười, hỡi những con người siêu đẳng, hãy học
    cười!”. Bằng tiếng cười hồn nhiên ròn rã, chúng ta quét sạch mọi thần tượng
    trang trọng đăm chiêu và đón chào một thế giới tinh khôi rực rỡ.
    Nguyễn Hữu Hiệu
    Vạn Hạnh, 26-09-1971

    4. Khai từ
    Duy trì được sự thanh thản giữa một sự vụ u sầu và có thể biện minh quá độ
    chừng đâu phải là một nghệ thuật không đáng kể: tuy nhiên có điều gì cần
    thiết hơn thanh thản chăng? Chẳng việc gì thành công nếu lòng hăng hai
    chẳng tham dự vào. Chỉ có sự thặng dư của sức mạnh mới là bằng chứng của
    sức mạnh. Đảo hoán mọi Giá Trị, dấu hỏi quá đen, quá lớn hắt bóng tối lên
    kẻ đặt ra nó, -định mệnh của một công việc như vậy buộc người ta từng giây
    phút phải lao thẳng vào mặt trời, rũ bỏ vẻ trang nghiêm đã đè ta quá nặng.
    Tất cả mọi phương tiện đều được biện minh, mọi “cơ hội” đều là cơ hội tốt.
    Trên tất cả, chiến tranh. Chiến tranh luôn là sự minh mẫn thận trọng ghê
    gớm của tất cả những tinh thần đã trở nên quá chuyên tâm, của tất cả những
    tinh thần đã trở nên quá thẳm sâu; khả năng chữa trị đã nằm ngay trong vết
    thương. Một câu phương ngôn mà xuất xứ tôi cố tình dấu nhẹm óc tò mò trí
    thức, từ lâu đã trở thành phương châm của tôi:
    [1]

    increscunt animi, virescit volnere virtus

    Một hình thức chữa trị khác, trong một vài trường hợp còn thích hợp với tôi
    hơn nữa, đó là thăm dò những thần tượng… Trên thế giới có nhiều thần
    tượng hơn là thực tại: đó là “ác nhãn” của tôi đối với thế giới này, đó cũng là
    “ác nhĩ” của tôi nữa… Ở đây đặt ra những câu hỏi với một chiếc búa và có
    thể nhận được như một hồi âm cái âm thanh trống rỗng thốt lên tự lòng hiu
    hiu tự đắc - thích thú thay cho kẻ nào có một đôi tai khác nữa sau đôi tai của
    mình, - đối với tôi, một tâm lý gia và một kẻ đánh bẫy chuột cố cựu, trước sự
    hiện diện của kẻ đó quả thực những gì muốn thủ khẩu như bình cũng phải
    thốt lên tiếng nói …
    Cả cuốn sách này nữa - nhan đề đã bộc lộ nội dung - trước hết là một sự giải
    trí, một chấm ánh sáng, một cuộc đào thoát vào những giờ nhàn rỗi của một
    tâm lý gia. Có thể còn là một cuộc chiến tranh mới nữa? Và biết đâu có thể
    bắt được quả tang những bí mật của những thần tượng mới?... Cuốn tiểu luận
    này là một cuộc khai chiến vĩ đại ; còn về vấn đề nhằm thăm dò những thần
    tượng, lần này không phải là những thần tượng thời đại mà là những thần
    tượng vĩnh cửu ở đây sẽ bị đụng chạm đến bằng một chiếc búa như thể bằng
    cái âm thoa - cuối cùng không còn những thần tượng cổ kính nữa… Cũng
    không còn những thần tượng trống rỗng nữa… Nhưng điều đó không ngăn
    cản được người ta tin tưởng nhất; cũng như không ngăn cản người ta, ngay
    cả trong những trường hợp cao quí nhất, không gọi là thần tượng nữa…

    Turin , 30 tháng Chín, 1888, ngày hoàn tất cuốn sách đầu tiên của Cuộc đảo
    [2]

    hoán mọi Giá Trị

    Friedrich Nietzsche

    Châm ngôn và tên nhọn
    1. Nhàn cư là khởi đầu của tất cả mọi tâm lý học. Sao? tâm lý học có thể
    là… một tật xấu? 2. Ngay cả kẻ can đảm nhất trong chúng ta cũng ít khi có
    đủ can đảm khẳng định điều hắn thực sự biết.
    3. Để sống một mình người ta phải là một con vật hay một thần thánh Aristote nói như vậy. Còn có trường hợp thứ ba nữa: người ta phải vừa là thú
    vật vừa là thần thánh - đó là triết gia.
    4. “Tất cả mọi chân lý đều đơn giản.”- Đó không phải là một lời dối trá phức
    tạp sao? 5. Nói một lần dứt khoát, có nhiều điều tôi không muốn biết. - Minh
    triết vạch ra những giới hạn, ngay cả đối với hiểu biết.
    6. Chính vì trong bản chất của người ta có chất man rợ mà người ta có thể
    khôi phục lại được sự ác tà của mình, tôi muốn nói tâm linh tính…
    7. Sao? Con người chỉ là một sự nhầm lẫn của Thượng Đế hay Thượng Đế
    chỉ là một sự nhầm lẫn của con người?
    8. Trường chiến tranh của đời. - Cái gì không giết tôi khiến tôi mạnh mẽ
    hơn.
    9. Hãy tự giúp mình: rồi tất cả sẽ trợ giúp mình. Nguyên tắc bác ái của Kitô
    giáo.
    10. Chúng ta đừng hèn nhát trước những hành động của chúng ta! Chúng ta
    đừng bỏ rơi chúng ta trong cơn bối rối! - Sự hối hận của lương tâm là điều
    khiếm nhã.
    11. Con lừa có thể bi thảm không? - Bị đè bẹp dưới một gánh nặng mà người
    ta không thể mang cũng không thể quẳng đi?... Trường hợp của triết gia.
    12. Nếu người ta - thủ hữu câu hỏi tại sao của cuộc đời, người ta sẽ quen với
    bất cứ câu hỏi thế nào nào - Con người không khát vọng hạnh phúc; chỉ có
    người Ăng Lê làm vậy thôi.
    13. Người đàn ông đã tạo ra người đàn bà - nhưng bằng gì vậy? Bằng xương
    sườn Thượng Đế của hắn, - bằng lý tưởng của hắn…
    14. Sao? Bạn đang tìm kiếm gì? Bạn muốn nhân bạn lên một chục lần? Một

    [3]

    trăm lần? Bạn tìm kiếm những kẻ theo mình? - Tìm hư không!
    [4]

    15. Những con người sống lại sau khi đã chết - như tôi chẳng hạn - ít được
    hiểu hơn những người sống phù thời, nhưng họ được người ta lắng nghe
    chăm chú hơn. Nói rõ hơn: chúng ta không bao giờ được hiểu cả - và đó
    chính là quyền uy của chúng ta.
    16. Giữa đám quần thoa. - “Chân lý! Ồ! Chị không biết chân lý là gì rồi! Nó
    [5]
    chẳng phải là một toan tính xâm phạm pudeur của chúng ta sao?
    17. Đây là một nghệ sĩ, như những nghệ sĩ tôi yêu, đơn giản trong nhu cầu:
    hắn thực sự cần có hai điều: bánh mì và nghệ thuật của hắn, - panem et
    Circen…
    18. Kẻ nào không biết đặt ý chí của mình vào sự vật, muốn ít nhất đặt vào
    trong đó một ý nghĩa : điều đó khiến hắn tưởng trong đó đã hàm chứa một ý
    chí (nguyên tắc “tin tưởng”).
    19. Sao? Bạn đã chọn đức hạnh và tâm hồn cao thượng đồng thời lại ghen
    ghét nhìn lợi lộc của những kẻ thô lỗ phóng tâm trục vật? Nhưng với đức
    tính người ta khước từ “lợi lộc” mà… (để viết trên cửa nhà những kẻ bài Do
    Thái).
    20. Một người đàn bà hoàn toàn xúc phạm văn chương cũng như nàng phạm
    một tội lỗi nhỏ: để thử chơi, trong khi quay đầu lại ngó xem ai có để ý
    không, và để cho một người nào đó để ý…
    21. Phải đặt mình vào những hoàn cảnh trong đó người ta không được có
    những đức tính giả hình, nhưng trong những hoàn cảnh ấy, tựa như một
    người múa trên dây hoặc là người ta té hoặc đứng thẳng hoặc từ bỏ…
    22. “Những người độc ác không biết hát”. Vậy thì tại sao những người Nga
    lại biết hát?
    [6]

    23. “Tinh thần Đức”: từ mười tám năm nay là một contradictio in adjecto
    [7]
    .
    [8]

    24. Vì muốn tìm nguồn gốc khởi nguyên, người ta trở thành một con tôm .
    Nhà sử học nhìn lại đằng sau: cuối cùng ông ta tin tưởng vào phía sau.

    25. Sự thoả mãn bảo vệ người ta khỏi ngay cả sự cảm lạnh. Một người đàn
    bà biết mặc áo quần đầy đủ có cảm lạnh không nhỉ? - Tôi giả thiết trường
    hợp nàng mặc quần áo mong manh. 26. Tôi hồ nghi tất cả những người
    muốn thiết lập hệ thống và tránh xa họ. Ý muốn lập hệ thống là sự thiếu
    ngay thẳng thanh liêm.
    27. Người ta nói rằng người đàn bà sâu sắc - tại sao? Bởi vì người ta không
    bao giờ tới được đáy sâu của họ. Người đàn bà không hời hợt nữa.
    28. Khi người đàn bà có những đức tính đàn ông, người ta lảng tránh nàng,
    và nếu nàng không có những đức tính ấy, nàng sẽ chạy trốn chính nàng.
    29. Trước kia lương tâm phải cắn nhiều xiết bao! Nó có bộ răng tốt biết mấy!
    Và ngày nay? Có chuyện gì trục trặc xảy ra? - Vấn đề của nha sĩ.
    30. Ít khi người ta phạm nguyên chỉ một lỗi lầm khinh xuất. Với lỗi lầm
    khinh xuất đầu tiên, người ta luôn làm quá. Chính vì lý do đó, người ta
    thường phạm lỗi thứ hai - và bây giờ thì lại quá ít.
    31. Khi bị giẫm chân lên, con con sâu sẽ cuộn mình lại. Đó là tính thận trọng
    khôn ngoan. Bằng cách đó nó giảm dần tai hoạ bị giẫm lên trên lần nữa. Nói
    theo ngôn ngữ đạo đức: lòng khiêm tốn.
    32. Sự ghét dối trá và che đậy có thể khởi lên từ quan niệm thái quá về danh
    dự; sự khinh ghét tương tự có thể khởi lên từ lòng hèn nhát, vì sự dối trá bị
    cấm bởi luật thiêng liêng. Quá hèn nhát để nói dối…
    33. Cần ít biết chừng nào để được hạnh phúc! Tiếng sáo mục tử. - Không âm
    nhạc cuộc đời sẽ là một lỗi lầm. Người Đức còn tưởng tượng ngay cả
    Thượng Đế như một người đang ca hát nữa.
    [9]

    34. On ne peut penser et écrire qu'assis (G. Flaubert) - Thế là ta tóm được
    ngươi rồi, kẻ theo hư vô chủ nghĩa! Ngồi đúng là phạm tội với Thánh Linh.
    Chỉ có những tư tưởng đến với ta khi đang bước đi mới có giá trị mà thôi.
    35. Có những trường hợp chúng ta giống như những con ngựa, chúng ta,
    những tâm lý gia, và chúng ta trở nên bồn chồn sợ hãi: chúng ta nhìn thấy
    bóng chúng ta chập chờn trước mặt mình. Tâm lý gia phải quay mặt đi đừng
    nhìn mình để có thể nhìn thấy tất cả.
    36. Chúng ta có gây tổn thất gì cho đức hạnh không, chúng ta những kẻ vô
    luân? - Cũng ít như những kẻ vô chính phủ làm hại những ông hoàng vậy

    thôi. Chỉ khi nào đã bị bắn rồi họ mới có thể ngồi lại một cách vững vàng
    trên ngôi. Luân lý: người ta phải bắn bỏ luân lý. 37. Bạn chạy trước những
    người khác? - Bạn làm như vậy như một mục tử? Hay như một kẻ ngoại
    hạng? Trường hợp thứ ba có thể như một kẻ đào ngũ… Câu hỏi thứ nhất của
    lương tâm. 38. Bạn chân thật? Hay chỉ là một kẻ đóng trò? Một đại diện?
    Hay chi rlà một kẻ được đại diện? Cuối cùng có lẽ bạn chỉ bắt chước kẻ đóng
    trò… Câu hỏi thứ hai của lương tâm.
    39. Kẻ bất mãn nói. - Tôi tìm kiếm những vĩ nhân nhưng bao giờ cũng chỉ
    tìm thấy con khỉ bắt chước lí tưởng của họ.
    40. Bạn là kẻ ngắm nhìn? Hay một kẻ bắt tay vào công việc? - Hay một kẻ
    ngó lơ quay đi chỗ khác… Câu hỏi thứ ba của lương tâm.
    41. Bạn muốn đi chung cùng bạn hữu? Hay dẫn đầu? Hoặc đi riêng
     
    Gửi ý kiến