Chào mừng quý vị đến với CLB Giáo viên Hải Dương.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11
HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
cach-mang-va-phan-cach-mang-o-duc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:26' 06-03-2026
Dung lượng: 741.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:26' 06-03-2026
Dung lượng: 741.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Cách mạng và phản cách mạng ở Đức
Mục lục
I.Nước Đức vào đêm trước cách mạng
II. Quốc gia Phổ
III. Những quốc gia khác ở Đức
IV. Nước áo
V. Cuộc khởi nghĩa ở Viên
VI. Cuộc khởi nghĩa ở Béc-Lin
VII. Quốc Hội Phran-Phuốc
VIII. Người Ba Lan, người Séc và người Đức
IX. Chủ nghĩa đại Xla-vơ. Cuộc chiến tranh Slê-dơ-vích - Hôn-stainơ...
X. Cuộc khởi nghĩa ở Pa-ri. Quốc hội Phran-Phuốc
XI. Cuộc khởi nghĩa ở Viên
XII. Cuộc tấn công chiếm Viên. Sự phản bội Viên
XIII. Hội nghị lập hiến Phổ. Quốc hội
XIV. Việc khội phục lại trật tự. Quốc hội Đức và các nghị viện
XV. Thắng lợi của nước Phổ
XVI. Quốc hội và các chính phủ
XVII. Cuộc khởi nghĩa
XVIII. Những người tiểu tư sản
XIX. Kết cục của cuộc khởi nghĩa
----------------Tác giả: Ph.Ăng-ghen
Ngày viết: Tháng Tám 1851 - tháng Chín 1852
Xuất bản: Đã đăng trên báo "New - York Daily Tribune" ngày 25 và
28 tháng Mười, ngày 6,7,12 và 28 tháng Mười một 1851; ngày 27
tháng Hai, ngày 5,15,18 và 19 tháng Ba, ngày 9,17 và 18 tháng Chín
, ngày 2 và 23 tháng Mười 1852.
Ký tên: Karl Mark
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
I.Nước Đức vào đêm trước cách mạng
Ngày 25 tháng 10 năm 1851
Màn đầu của tấn kịch cách mạng trên lục địa châu âu đã chấm
dứt. "Những quyền lực cũ", tồn tại trước cơn bão táp năm 1848, lại
trở thành "những quyền lực ngày nay", còn những kẻ làm chủ một
giờ ít nhiều nổi tiếng, những quan nhiếp chính lâm thời, những bộ ba
chấp chính, những nhà độc tài, cùng với nguyên cả đám tùy tùng của
họ như các nghị sĩ, ủy viên dân chính và quân sự, quận trưởng, thẩm
phán, tướng lĩnh, sĩ quan và binh lính, tất cả đều bị ném sang các bờ
biển nước ngoài và "chở qua bên kia các đại dương", đến nước Anh
hay nước Mỹ. Ở đó, họ bắt đầu thành lập những chính phủ mới "in
partibus infidelium"[1], những ủy ban châu âu, những ủy ban trung
ương, những ủy ban dân tộc, rồi tuyên bố việc thành lập những tổ
chức ấy bằng những tuyên ngôn trang trọng không kém gì tuyên
ngôn của những kẻ cầm quyền ít huyễn hoặc hơn.
Thật khó có thể tưởng tượng được một thất bại nào nặng nề hơn là
thất bại của đảng cách mạng, hay nói cho đúng hơn là của các đảng
cách mạng ở trên lục địa, trên khắp mọi nơi của trận tưyến. Nhưng
như vậy là thế nào? Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản Anh để giành
quyền thống trị về xã hội và chính trị há chẳng đã diễn ra suốt 48 năm
và cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản Pháp há chẳng đã diễn ra suốt
40 năm chiến đấu phi thường đó sao? Liệu có lúc nào giai cấp tư sản
lại tiến đến gần thắng lợi bằng lúc mà nền quân chủ phục tích đã
tưởng được xác lập vững chắc hơn bao giờ hết? Những thời đại
trong đó quan điểm mê tín đã coi những cuộc cách mạng là ác ý của
một dúm những nhà cổ động, đã qua hẳn rồi. Ngày nay, ai cũng biết
rằng đằng sau bất cứ một biến động cách mạng nào cũng nhất thiết
phải có một nhu cầu xã hội nào đó mà những thiết chế lỗi thời ngăn
trở không cho được thỏa mãn. Có thể là nhu cầu ấy chưa được
người ta cảm thấy một cách khá sâu sắc, khá phổ biến để đảm bảo
cho thắng lợi ngay tức khắc; nhưng bất cứ mưu toan nào định đàn áp
nó bằng bạo lực cũng chỉ làm cho nó lại nảy sinh ra càng mạnh mẽ
hơn, cho đến khi cuối cùng, nó bứt tung được xiềng xích trói buộc nó.
Vì vậy, nếu chúng ta có bị đánh bại thì chúng ta không có cách nào
khác là làm lại từ đầu. Và may mắn là ở giữa cuối màn thứ nhất và
đầu màn thứ hai của phong trào, lại có một thời gian nghỉ ngơi, chắc
chắn là rất ngắn, để cho chúng ta có thể làm được một công việc hết
sức cần thiết: nghiên cứu những nguyên nhân đã làm cho phong trào
vừa qua tất yếu phải nổ ra, cũng như đã làm cho nó thất bại; những
nguyên nhân mà người ta không nên tìm ở những cố gắng, ưu điểm,
khuyết điểm, sai lầm hay sự phản bội ngẫu nhiên của một vài lãnh tụ,
mà phải tìm trong xã hội chung và trong những điều kiện tồn tại của
mỗi một nước đã kinh qua sự biến động. Ai nấy đều thừa nhận rằng
những phong trào nổ ra đột ngột vào tháng Hai và tháng Ba 1848
không phải là công trình của những cá nhân riêng lẻ, mà là những
biểu hiện thứ phát, không cưỡng lại được của những yêu cầu và nhu
cầu dân tộc mà đông đảo các giai cấp trong tất cả các nước hiểu
được nhiều hay ít, nhưng lại cảm thấy rất rõ ràng; song khi tìm hiểu
những nguyên nhân thành công của phe phản cách mạng thì ở khắp
mọi nơi, các bạn đều nghe thấy một câu trả lời đã có sẵn rằng hình
như đó là một ông A hay một công dân B đã "phản bội" nhân dân.
Câu trả lời ấy có thể đúng hoặc sai, tùy từng trường hợp; nhưng
không bao giờ nó giải thích được điều gì và cũng không làm cho
chúng ta hiểu vì sao "nhân dân" lại để cho người ta phản bội như
vậy. Nếu như cả cái vốn liếng chính trị của một chính đảng chỉ là ở
chỗ biết mỗi một điều là người này hoặc người kia không đáng tin
cậy thì mọi tương lai của nó sẽ mờ mịt biết bao.
Ngoài ra, việc nghiên cứu và trình bày những nguyên nhân của sự
bùng nổ cách mạng cũng như của sự trấn áp nó, lại còn có ý nghĩa
trọng đại về phương diện lịch sử nữa. Tất cả những cuộc cãi lộn và xỉ
vả lẫn nhau một cách nhỏ nhen và cá nhân, tất cả những lời khẳng
định trái ngược nhau cho rằng Ma-ra-xtơ hay Lơ-đruy-Rô-lanh, hay
Lu-i Blăng, hay một thành viên nào khác của chính phủ lâm thời, hay
tất cả bọn họ đã đưa cách mạng vào giữa những ghềnh đá làm cho
nó đắm chìm thì có ích lợi gì, có đem lại ánh sáng gì cho một người
Mỹ hoặc một người Anh đã quan sát các phong trào khác nhau ấy từ
quá xa nên không thể phân biệt được một chi tiết nào cả của những
biến cố? Không một người nào biết phải trái lại có thể tin được rằng
chỉ có 11 người[2], phần lớn đều là những nhân vật rất tầm thường
và rất ít có tài làm những việc đại thiện cũng như đại ác, lại có thể,
trong vòng ba tháng, làm phá sản được một dân tộc 36 triệu người,
trừ phi là cả 36 triệu người đó cũng lầm lạc như 11 người kia. Làm
sao mà cả 36 triệu người ấy, dù có một bộ phận còn lần mò trong
bóng tối bỗng nhiên lại có nhiệm vụ tự mình quyết định con đường
mình phải theo, và làm sao mà sau đó, họ lại lầm lạc và làm sao mà
những kẻ cầm quyền cũ của họ lại tạm thời trở lại nắm được quyền
lãnh đạo, - vấn đề là ở chính chỗ đó.
Vậy nếu chúng tôi muốn thử trình bày với các bạn đọc của tờ
"Tribune"[2*] những nguyên nhân đã tất yếu gây nên cuộc cách mạng
Đức năm 1848, cũng như tất yếu dẫn tới việc nó nhất thời bị đàn áp
vào những năm 1849 và 1850 thì các bạn cũng đừng mong rằng
chúng tôi sẽ miêu tả toàn bộ những sự kiện đã điễn ra ở nước Đức.
Những biến cố sau đó và sự xét đoán của các thế hệ tương lai sẽ
cho phép quyết định xem chính bộ phận nào trong cái đống những
sự kiện có vẻ ngẫu nhiên, không có liên hệ với nhau và mâu thuẫn
nhau ấy, phải được ghi vào lịch sử toàn thế giới như một bộ phận
cấu thành. Hiện giờ chưa phải là lúc làm một việc như vậy; chúng tôi
phải đứng trong phạm vi có thể làm được và lấy làm mãn nguyện nếu
tìm ra được những nguyên nhân hợp lý dựa trên những sự kiện
không chối cãi được, để giải thích những biến cố chủ yếu nhất và
những bước ngoặt quyết định của phong trào ấy và rút ra được một
sự chỉ dẫn về phương hướng mà cuộc bùng nổ sắp tới, có lẽ cũng
chẳng còn xa nữa, sẽ buộc dân tộc Đức phải đi theo.
Vậy trước hết, tình hình nước Đức ngay trước lúc nổ ra cách mạng,
là như thế nào?
Lúc bấy giờ, thành phần các giai cấp khác nhau trong nhân dân tạo
thành nền tảng của mọi tổ chức chính trị ở Đức thì phức tạp hơn ở
mọi nước khác. Trong khi ở Anh và ở Pháp, chế độ phong kiến đã bị
giai cấp tư sản giàu và mạnh, tập trung trong các thành thị lớn và đặc
biệt là ở thủ đô, xóa bỏ hoàn toàn hoặc ít ra, như ở Anh, cũng chỉ còn
là một số tàn tích không đáng kể, thì ở Đức, giai cấp quý tộc phong
kiến vẫn còn giữ được phần lớn những đặc quyền cũ của nó. Chế độ
sở hữu ruộng đất phong kiến còn thống trị ở hầu khắp mọi nơi. Các
lãnh chúa phong kiến còn giữ được cả quyền xét xử những nông dân
phụ thuộc của họ. Tuy mất đặc quyền chính trị, - tức là quyền kiểm
soát các quốc vương, - nhưng họ vẫn giữ được hầu hết mọi quyền
thống trị trung cổ của họ đối với nông dân ở trong lãnh địa của họ, và
cả quyền được miễn thuế nữa. Trong một số miền, chế độ phong
kiến có mạnh hơn ở trong một số miền khác, nhưng trừ tả ngạn sông
Ranh ra thì chưa ở đâu, chế độ ấy bị hoàn toàn tiêu diệt. Giai cấp quý
tộc phong kiến ấy, lúc bấy giờ rất đông đảo và có khi rất giàu có
được chính thức xem là "đẳng cấp" đứng đầu trong nước. Nó cung
cấp những quan lại cao cấp cho nhà nước và chiếm hầu hết những
chức vụ sĩ quan trong quân đội.
Giai cấp tư sản Đức không giàu có và thống nhất bằng giai cấp tư
sản Pháp hoặc Anh. Những ngành công nghiệp cũ của Đức đã bị
việc du nhập máy hơi nước và ưu thế đang phát triển nhanh chóng
của công nghiệp Anh làm cho phá sản. Những ngành công nghiệp
hiện đại hơn được xây dựng ở những miền khác trong nước nhờ
chính sách phong tỏa của lục địa của Na-pô-lê-ông[3*] vẫn không bù
đắp được những mất mát của các ngành công nghiệp cũ và không đủ
làm cho công nghiệp được chú ý đến mức khả dĩ bắt buộc các chính
phủ vốn thù ghét mọi sự tích lũy của cải và quyền lực của các tầng
lớp không phải là quý tộc, phải tính đến nhu cầu của nó. Nếu nước
Pháp đã đưa nền công nghiệp tơ lụa của mình vượt qua được một
cách thắng lợi tất cả những thử thách của năm mươi năm cách mạng
và chiến tranh, thì nước Đức, cũng trong khoảng thời gian ấy, lại đã
mất hầu như gần hết công nghiệp bông vải sợi cũ của mình. Ngoài
ra, những khu công nghiệp thì không nhiều, lại ở rải rác xa nhau. Do
nằm sâu trong nội địa, những khu công nghiệp ấy lại chủ yếu sử
dụng những hải cảng nước ngoài như của Hà Lan hay của Bỉ để
nhập khẩu và xuất khẩu, nên chúng có ít hoặc không có những lợi ích
chung với các hải cảng lớn ở miền biển Ban-tích và ở biển Bắc;
nhưng cái chính là những khu công nghiệp ấy đã không có khả năng
tạo nên được những trung tâm công nghiệp và thương mại lớn như
Pa-ri và Li-ông, Luân Đôn và Man-se-xtơ. Tình trạng lạc hậu đó của
công nghiệp Đức có nhiều nguyên nhân, nhưng để giải thích tình
trạng lạc hậu đó chỉ cần vạch ra hai nguyên nhân là đủ: vị trí địa lý
không thuận lợi của nước Đức, nó ở xa Đại Tây Dương - một con
đường lớn của thương mại quốc tế, - và những cuộc chiến tranh liên
miên mà nước Đức đã bị lôi cuốn vào ở ngay trên lãnh thổ của mình
suốt từ thế kỷ XVI đến nay. Số lượng ít ỏi và nhất là tình trạng không
tập trung của giai cấp tư sản Đức đã cản trở nó giành được bá quyền
chính trị mà giai cấp tư sản Anh đã có từ năm 1688 và giai cấp tư
sản Pháp đã đoạt được vào năm 1789. Mặc dầu thế, từ năm 1815,
của cải và cùng với của cải là ảnh hưởng chính trị của giai cấp tư sản
Đức vẫn không ngừng tăng lên. Các chính phủ, dù không muốn,
cũng bắt buộc ít ra là phải tính đến những lợi ích vật chất trực tiếp
của giai cấp tư sản. Thậm chí có thể nói thẳng ra rằng từng mẩu ảnh
hưởng chính trị nhượng cho giai cấp tư sản trong các hiến pháp của
các tiểu bang, đều đã bị tước đoạt trở lại trong những thời kỳ phản
động chính trị từ năm 1815 đến năm 1830 và từ năm 1832 đến năm
1840, và từng mẩu ảnh hưởng ấy lại được đền bù bằng một sự
nhường lại một lợi ích thiết thực hơn. Mỗi một thất bại chính trị của
giai cấp tư sản đều dẫn đến một thắng lợi trong lĩnh vực pháp chế
thương mại. Và dĩ nhiên là đối với các nhà thương mại và công
nghiệp Đức, biểu thuế quan bảo hộ của nước Phổ năm 1818 và sự
thành lập Liên minh thuế quan[4*] còn có nhiều giá trị hơn là cái
quyền hạn không rành rọt là có thể phát biểu ở những nghị viện của
một công quốc nhỏ nào đó sự không tín nhiệm của họ đối với những
bộ trưởng chẳng thèm đếm xỉa gì đến những biểu quyết của họ cả.
Như vậy là với của cải tăng thêm và hoạt động thương mại ngày
càng mở rộng, giai cấp tư sản chẳng bao lâu đã bước vào thời kỳ mà
nó nhận thấy rằng sự phát triển của những lợi ích quan trọng nhất
của nó bị cản trở bởi cơ cấu chính trị của đất nước, bởi tình trạng
chia năm, xẻ bảy của đất nước giữa ba mươi sáu vương hầu có
những nguyện vọng và sở thích đối lập nhau, bởi những xiềng xích
phong kiến trói buộc nông nghiệp và trói buộc nền thương nghiệp gắn
liền với nông nghiệp, bởi sự kiểm soát xoi mói mà một bộ máy quan
liêu ngu dốt và hống hách thi hành đối với tất cả những giao dịch của
nó. Đồng thời, việc mở rộng và củng cố Liên minh thuế quan, việc áp
dụng phổ biến máy hơi nước vào những phương tiện vận tải, sự
cạnh tranh ngày càng tăng ở thị trường nội địa, - tất cả những cái đó
đã làm cho các giai cấp thương nhân và công nghiệp của các bang
và tỉnh khác nhau gần gũi nhau, đã làm cho quyền lợi của họ trở
thành nhất trí và lực lượng của họ tập trung lại. Một hậu quả tự nhiên
của điều đó là cả bọn họ đã chạy sang phe đối lập tự do chủ nghĩa và
giai cấp tư sản Đức đã thu được thắng lợi trong cuộc đấu tranh quan
trọng đầu tiên để giành quyền chính trị. Có thể coi sự biến chuyển đó
là bắt đầu vào năm 1840, khi mà giai cấp tư sản Phổ nắm được
quyền lãnh đạo phong trào tư sản ở Đức. Sau này, chúng tôi sẽ còn
bàn về phong trào ấy của phái đối lập - tự do chủ nghĩa vào những
năm 1840 - 1847.
Bộ phận quần chúng cơ bản của dân tộc, những người không thuộc
tầng lớp quý tộc, cũng không thuộc giai cấp tư sản, là gồm giai cấp
tiểu thủ công, tiểu thương và công nhân, ở thành thị, và gồm nông
dân, ở nông thôn.
Ở Đức giai cấp tiểu thủ công và tiểu thương thì rất đông vì sự phát
triển của giai cấp đại tư bản và đại công nghiệp ở đó yếu. Trong
những thành thị lớn hơn, giai cấp ấy hầu như chiếm đại đa số trong
dân cư, trong những thành thị nhỏ, nó chiếm ưu thế tuyệt đối vì
không có kẻ cạnh tranh có thế lực hơn và giàu có hơn.
Đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tất cả các quốc gia hiện
đại và trong tất cả mọi cuộc cách mạng hiện đại, giai cấp ấy lại đặc
biệt quan trọng ở Đức, nơi mà nó thường đóng vai trò quyết định
trong cuộc đấu tranh gần đây. Địa vị trung gian của nó ở giữa giai
cấp tư sản lớn hơn, - những nhà công thương nghiệp, giai cấp tư sản
theo nghĩa riêng của từ này, - và giai cấp vô sản hay giai cấp công
nhân công nghiệp, quyết định tính chất riêng của nó. Nó thèm ngoi
lên địa vị của giai cấp tư sản, nhưng chỉ một rủi ro nhỏ cũng đẩy
những cá nhân trong giai cấp tiểu tư sản ấy vào hàng ngũ của giai
cấp vô sản. Trong những nước quân chủ và phong kiến, giai cấp tiểu
thủ công và tiểu thương sở dĩ tồn tại được là nhờ những khách hàng
trong triều đình và trong giai cấp quý tộc; mất món khách hàng này
thì một bộ phận lớn của giai cấp ấy sẽ bị phá sản. Trong những thành
thị nhỏ hơn thì một đơn vị đồn trú, một cơ quan chính quyền địa
phương, một tòa án với đám tùy tùng của nó, thường là nền tảng của
sự phồn thịnh của giai cấp ấy, xóa bỏ những thiết chế ấy đi thì cũng
đi đời những chủ hiệu nhỏ, thợ may, thợ đóng giày, thợ mộc. Vì vậy
nó luôn luôn ngả nghiêng giữa hy vọng vươn lên hàng ngũ giai cấp
giàu có hơn và nỗi lo sợ bị rơi xuống địa vị của giai cấp vô sản hoặc
thậm chí xuống thành những người cùng khổ, giữa hy vọng đảm bảo
lợi ích của mình bằng cách giành lấy một phần quyền lãnh đạo công
việc nhà nước và nỗi kinh sợ là nếu đối lập không đúng lúc sẽ gây
nên sự tức giận của cái chính phủ quyết định sinh mệnh của mình vì
chính phủ có thể tước mất những khách hàng quý nhất của mình. Nó
có một tài sản rất nhỏ bé, mà số lượng của tài sản này là tỷ lệ nghịch
với tính không bền vững của nó.
Hậu quả của tất cả những điều đó là những quan điểm của giai
cấp này rất bấp bênh. Khúm núm và phục tùng hèn hạ trước một
chính quyền phong kiến hay quân chủ mạnh, giai cấp ấy nghiêng về
chủ nghĩa tự do khi giai cấp tư sản đang đi lên; nó có nhiều cơn bột
phát dân chủ chủ nghĩa ngay khi giai cấp tư sản nắm được quyền
thống trị, nhưng khi giai cấp vô sản, tức là giai cấp bên dưới nó, triển
khai một phong trào độc lập thì nó lại rơi vào chính tình trạng hèn hạ
thảm hại. Trong quá trình trình bày, chúng ta sẽ thấy giai cấp ấy ở
Đức lần lượt chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác như thế
nào.
Giai cấp công nhân ở Đức, trong quá trình phát triển xã hội và chính
trị của mình, cũng lạc hậu so với giai cấp công nhân Anh, Pháp,
giống như giai cấp tư sản Đức so với giai cấp tư sản của các nước
ấy. Thầy nào thì tớ ấy. Sự tiến triển của những điều kiện cần thiết
cho sự tồn tại của một giai cấp vô sản đông đúc, mạnh mẽ, tập trung
và giác ngộ thì đi song song với sự tiến triển của những điều kiện tồn
tại của một giai cấp tư sản đông đúc, giàu có, tập trung và mạnh mẽ.
Bản thân phong trào công nhân không bao giờ trở thành một
phong trào độc lập, không bao giờ mang tính chất triệt để vô sản,
chừng nào các bộ phận khác nhau của giai cấp tư sản, nhất là bộ
phận tiến bộ nhất của nó là các nhà đại công nghiệp, chưa giành
được chính quyền và cải biến nhà nước theo nhu cầu của họ. Chính
lúc ấy là lúc mà sự xung đột tất yếu giữa chủ và thợ mới trở nên
không tránh khỏi và không thể trì hoãn được, lúc ấy người ta không
thể tiếp tục nuôi những hy vọng hão huyền trong công nhân và đưa
ra những lời hứa hẹn chẳng bao giờ được thực hiện; mà cuối cùng,
vấn đề lớn của thế kỷ XIX, vấn đề xóa bỏ giai cấp vô sản, mới được
đưa ra, một cách hoàn toàn đầy đủ, rõ ràng.
Nhưng ở Đức, đại đa số giai cấp công nhân không làm thuê cho
những vua chúa hiện đại của công nghiệp mà nước Anh đã cung cấp
những kiểu mẫu tuyệt vời, song lại làm thuê cho các người tiểu thủ
công mà tất cả lề lối sản xuất chỉ là tàn dư của thời trung cổ. Và giữa
ông vua bông vải sợi lớn và người chủ hiệu giày nhỏ hay bác phó
may có sự khác biệt nhau to lớn thế nào thì giữa người công nhân
công xưởng rất giác ngộ của những Ba-bi-lon công nghiệp hiện đại
với bác thợ may rụt rè hay bác thợ mộc của một thị trấn nhỏ quê
mùa, mà điều kiện sinh hoạt và phương thức làm việc không khác
mấy những thợ bạn các phường hội cách đây năm thế kỷ, cũng có
sự khác biệt như vậy. Không có những điều kiện sinh hoạt hiện đại
ấy, những phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại ấy, nên
đương nhiên là cũng hầu như không có luôn cả những tư tưởng hiện
đại. Chính vì thế mà không lấy làm lạ là khi cách mạng nổ ra, một
phần lớn công nhân lại lớn tiếng đòi khôi phục ngay những hàng hội
và những phường hội có đặc quyền của thời trung cổ. Mặc dù vậy,
nhờ ảnh hưởng của các khu công nghiệp, nơi mà hệ thống sản xuất
hiện đại chiếm ưu thế và nhờ những khả năng tiếp xúc qua lại dễ
dàng và việc mở mang trí tuệ mà lối sống lưu động của một số đông
thợ thuyền thúc đẩy, nên giữa họ đã hình thành một hạt nhân mạnh
mẽ gồm những phần tử mà những tư tưởng về vấn đề giải phóng giai
cấp của họ đều hết sức rành mạch và phù hợp hơn với những sự
kiện hiện tại và những nhu cầu lịch sử.
Nhưng đó chỉ là một thiểu số. Nếu có thể xem như phong trào tích
cực của giai cấp tư sản là bắt đầu từ năm 1840 thì phong trào của
giai cấp vô sản lại bắt đầu từ những cuộc khởi nghĩa của công nhân
Xi-lê-di và Bô-hêm[3] năm 1844[5*].
Lát nữa, chúng ta sẽ có dịp điểm qua những giai đoạn khác nhau
của phong trào ấy.
Sau cùng, còn có giai cấp đông đảo gồm những phéc-mi-ê nhỏ, có
nông dân, với đám công nhân nông nghiệp phụ thuộc của mình, là
giai cấp chiếm đại đa số trong toàn thể dân tộc. Nhưng bản thân giai
cấp này lại chia thành nhiều nhóm khác nhau.
Trước hết chúng ta thấy đây là những nông dân khá giả - Gross và Mittelbauern[4] như ở Đức người ta gọi, họ là chủ nhân của những
trang trại ít nhiều rộng lớn và sử dụng sức lao động của một số công
nhân nông nghiệp. Đối với giai cấp này, giai cấp nằm giữa một bên là
những đại địa chủ phong kiến được miễn thuế với một bên là những
nông dân nghèo và công nhân nông nghiệp thì vì những lý do hoàn
toàn dễ hiểu, đường lối chính trị tự nhiên nhất của họ là liên minh với
giai cấp tư sản chống phong kiến ở các thành thị.
Thứ hai, là những người tiểu nông tự do chiếm ưu thế ở vùng
Ranh, ở đó chế độ phong kiến đã bị sụp đổ dưới những đòn mãnh
liệt của cách mạng Pháp. Rải rác ở các vùng khác, có những tiểu
nông tự do, họ đã chuộc lại được các đảm phụ phong kiến xưa kia đè
nặng lên đất đai của họ. Nhưng giai cấp này cũng chỉ là nông dân tự
do trên danh nghĩa mà thôi, vì tài sản của họ thường đã bị cầm cố
đến mức độ và với những điều kiện nặng nề đến nỗi chủ nhân thực
sự của ruộng đất không phải là người nông dân tự do nữa, mà kẻ
cho vay nặng lãi đã ứng tiền trước cho họ. Thứ ba, là những nông
dân phụ thuộc của lãnh chúa phong kiến mà người ta khó lòng đuổi
được ra khỏi ruộng đất của họ, nhưng họ phải nộp địa tô vĩnh viễn
cho địa chủ hoặc vĩnh viễn làm một công việc nào đó cho địa chủ.
Cuối cùng là những công nhân nông nghiệp, thân phận của họ trong
nhiều điền trang lớn rất giống thân phận của giai cấp ấy ở Anh, họ
bao giờ cũng sống nghèo và chết khổ, thiếu ăn và làm nô lệ cho chủ.
Ba tầng lớp sau ấy của dân cư nông nghiệp - những tiểu nông tự do,
những nông dân phụ thuộc của lãnh chúa phong kiến và những công
nhân nông nghiệp, - trước cách mạng, không bao giờ quan tâm tới
chính trị; nhưng rất rõ ràng là cách mạng phải mở ra cho họ một con
đường làm ăn mới với những triển vọng rực rỡ nhất. Cách mạng sẽ
mang lại cho mỗi giai cấp ấy những lợi ích, cho nên có thể tin rằng tất
cả họ sẽ lần lượt tham gia phong trào một khi phong trào đã hoàn
toàn triển khai.
Nhưng đồng thời điều cũng không kém phần rõ rệt và cũng được
lịch sử tất cả các nước tiên tiến chứng minh là dân cư nông nghiệp,
vì họ ở rải rác trên một diện tích rất rộng và vì rất khó gây được một
sự nhất trí trong một bộ phận đông đảo của họ, nên không bao giờ có
thể tiến hành thắng lợi một phong trào độc lập. Họ cần có một sự
thúc đẩy ban đầu của những người dân thành thị, sống tập trung
hơn, sáng suốt hơn và hoạt động hơn.
Sự phác họa sơ lược ấy về những giai cấp quan trọng nhất họp
thành dân tộc Đức trong lúc nổ ra những p
Mục lục
I.Nước Đức vào đêm trước cách mạng
II. Quốc gia Phổ
III. Những quốc gia khác ở Đức
IV. Nước áo
V. Cuộc khởi nghĩa ở Viên
VI. Cuộc khởi nghĩa ở Béc-Lin
VII. Quốc Hội Phran-Phuốc
VIII. Người Ba Lan, người Séc và người Đức
IX. Chủ nghĩa đại Xla-vơ. Cuộc chiến tranh Slê-dơ-vích - Hôn-stainơ...
X. Cuộc khởi nghĩa ở Pa-ri. Quốc hội Phran-Phuốc
XI. Cuộc khởi nghĩa ở Viên
XII. Cuộc tấn công chiếm Viên. Sự phản bội Viên
XIII. Hội nghị lập hiến Phổ. Quốc hội
XIV. Việc khội phục lại trật tự. Quốc hội Đức và các nghị viện
XV. Thắng lợi của nước Phổ
XVI. Quốc hội và các chính phủ
XVII. Cuộc khởi nghĩa
XVIII. Những người tiểu tư sản
XIX. Kết cục của cuộc khởi nghĩa
----------------Tác giả: Ph.Ăng-ghen
Ngày viết: Tháng Tám 1851 - tháng Chín 1852
Xuất bản: Đã đăng trên báo "New - York Daily Tribune" ngày 25 và
28 tháng Mười, ngày 6,7,12 và 28 tháng Mười một 1851; ngày 27
tháng Hai, ngày 5,15,18 và 19 tháng Ba, ngày 9,17 và 18 tháng Chín
, ngày 2 và 23 tháng Mười 1852.
Ký tên: Karl Mark
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
I.Nước Đức vào đêm trước cách mạng
Ngày 25 tháng 10 năm 1851
Màn đầu của tấn kịch cách mạng trên lục địa châu âu đã chấm
dứt. "Những quyền lực cũ", tồn tại trước cơn bão táp năm 1848, lại
trở thành "những quyền lực ngày nay", còn những kẻ làm chủ một
giờ ít nhiều nổi tiếng, những quan nhiếp chính lâm thời, những bộ ba
chấp chính, những nhà độc tài, cùng với nguyên cả đám tùy tùng của
họ như các nghị sĩ, ủy viên dân chính và quân sự, quận trưởng, thẩm
phán, tướng lĩnh, sĩ quan và binh lính, tất cả đều bị ném sang các bờ
biển nước ngoài và "chở qua bên kia các đại dương", đến nước Anh
hay nước Mỹ. Ở đó, họ bắt đầu thành lập những chính phủ mới "in
partibus infidelium"[1], những ủy ban châu âu, những ủy ban trung
ương, những ủy ban dân tộc, rồi tuyên bố việc thành lập những tổ
chức ấy bằng những tuyên ngôn trang trọng không kém gì tuyên
ngôn của những kẻ cầm quyền ít huyễn hoặc hơn.
Thật khó có thể tưởng tượng được một thất bại nào nặng nề hơn là
thất bại của đảng cách mạng, hay nói cho đúng hơn là của các đảng
cách mạng ở trên lục địa, trên khắp mọi nơi của trận tưyến. Nhưng
như vậy là thế nào? Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản Anh để giành
quyền thống trị về xã hội và chính trị há chẳng đã diễn ra suốt 48 năm
và cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản Pháp há chẳng đã diễn ra suốt
40 năm chiến đấu phi thường đó sao? Liệu có lúc nào giai cấp tư sản
lại tiến đến gần thắng lợi bằng lúc mà nền quân chủ phục tích đã
tưởng được xác lập vững chắc hơn bao giờ hết? Những thời đại
trong đó quan điểm mê tín đã coi những cuộc cách mạng là ác ý của
một dúm những nhà cổ động, đã qua hẳn rồi. Ngày nay, ai cũng biết
rằng đằng sau bất cứ một biến động cách mạng nào cũng nhất thiết
phải có một nhu cầu xã hội nào đó mà những thiết chế lỗi thời ngăn
trở không cho được thỏa mãn. Có thể là nhu cầu ấy chưa được
người ta cảm thấy một cách khá sâu sắc, khá phổ biến để đảm bảo
cho thắng lợi ngay tức khắc; nhưng bất cứ mưu toan nào định đàn áp
nó bằng bạo lực cũng chỉ làm cho nó lại nảy sinh ra càng mạnh mẽ
hơn, cho đến khi cuối cùng, nó bứt tung được xiềng xích trói buộc nó.
Vì vậy, nếu chúng ta có bị đánh bại thì chúng ta không có cách nào
khác là làm lại từ đầu. Và may mắn là ở giữa cuối màn thứ nhất và
đầu màn thứ hai của phong trào, lại có một thời gian nghỉ ngơi, chắc
chắn là rất ngắn, để cho chúng ta có thể làm được một công việc hết
sức cần thiết: nghiên cứu những nguyên nhân đã làm cho phong trào
vừa qua tất yếu phải nổ ra, cũng như đã làm cho nó thất bại; những
nguyên nhân mà người ta không nên tìm ở những cố gắng, ưu điểm,
khuyết điểm, sai lầm hay sự phản bội ngẫu nhiên của một vài lãnh tụ,
mà phải tìm trong xã hội chung và trong những điều kiện tồn tại của
mỗi một nước đã kinh qua sự biến động. Ai nấy đều thừa nhận rằng
những phong trào nổ ra đột ngột vào tháng Hai và tháng Ba 1848
không phải là công trình của những cá nhân riêng lẻ, mà là những
biểu hiện thứ phát, không cưỡng lại được của những yêu cầu và nhu
cầu dân tộc mà đông đảo các giai cấp trong tất cả các nước hiểu
được nhiều hay ít, nhưng lại cảm thấy rất rõ ràng; song khi tìm hiểu
những nguyên nhân thành công của phe phản cách mạng thì ở khắp
mọi nơi, các bạn đều nghe thấy một câu trả lời đã có sẵn rằng hình
như đó là một ông A hay một công dân B đã "phản bội" nhân dân.
Câu trả lời ấy có thể đúng hoặc sai, tùy từng trường hợp; nhưng
không bao giờ nó giải thích được điều gì và cũng không làm cho
chúng ta hiểu vì sao "nhân dân" lại để cho người ta phản bội như
vậy. Nếu như cả cái vốn liếng chính trị của một chính đảng chỉ là ở
chỗ biết mỗi một điều là người này hoặc người kia không đáng tin
cậy thì mọi tương lai của nó sẽ mờ mịt biết bao.
Ngoài ra, việc nghiên cứu và trình bày những nguyên nhân của sự
bùng nổ cách mạng cũng như của sự trấn áp nó, lại còn có ý nghĩa
trọng đại về phương diện lịch sử nữa. Tất cả những cuộc cãi lộn và xỉ
vả lẫn nhau một cách nhỏ nhen và cá nhân, tất cả những lời khẳng
định trái ngược nhau cho rằng Ma-ra-xtơ hay Lơ-đruy-Rô-lanh, hay
Lu-i Blăng, hay một thành viên nào khác của chính phủ lâm thời, hay
tất cả bọn họ đã đưa cách mạng vào giữa những ghềnh đá làm cho
nó đắm chìm thì có ích lợi gì, có đem lại ánh sáng gì cho một người
Mỹ hoặc một người Anh đã quan sát các phong trào khác nhau ấy từ
quá xa nên không thể phân biệt được một chi tiết nào cả của những
biến cố? Không một người nào biết phải trái lại có thể tin được rằng
chỉ có 11 người[2], phần lớn đều là những nhân vật rất tầm thường
và rất ít có tài làm những việc đại thiện cũng như đại ác, lại có thể,
trong vòng ba tháng, làm phá sản được một dân tộc 36 triệu người,
trừ phi là cả 36 triệu người đó cũng lầm lạc như 11 người kia. Làm
sao mà cả 36 triệu người ấy, dù có một bộ phận còn lần mò trong
bóng tối bỗng nhiên lại có nhiệm vụ tự mình quyết định con đường
mình phải theo, và làm sao mà sau đó, họ lại lầm lạc và làm sao mà
những kẻ cầm quyền cũ của họ lại tạm thời trở lại nắm được quyền
lãnh đạo, - vấn đề là ở chính chỗ đó.
Vậy nếu chúng tôi muốn thử trình bày với các bạn đọc của tờ
"Tribune"[2*] những nguyên nhân đã tất yếu gây nên cuộc cách mạng
Đức năm 1848, cũng như tất yếu dẫn tới việc nó nhất thời bị đàn áp
vào những năm 1849 và 1850 thì các bạn cũng đừng mong rằng
chúng tôi sẽ miêu tả toàn bộ những sự kiện đã điễn ra ở nước Đức.
Những biến cố sau đó và sự xét đoán của các thế hệ tương lai sẽ
cho phép quyết định xem chính bộ phận nào trong cái đống những
sự kiện có vẻ ngẫu nhiên, không có liên hệ với nhau và mâu thuẫn
nhau ấy, phải được ghi vào lịch sử toàn thế giới như một bộ phận
cấu thành. Hiện giờ chưa phải là lúc làm một việc như vậy; chúng tôi
phải đứng trong phạm vi có thể làm được và lấy làm mãn nguyện nếu
tìm ra được những nguyên nhân hợp lý dựa trên những sự kiện
không chối cãi được, để giải thích những biến cố chủ yếu nhất và
những bước ngoặt quyết định của phong trào ấy và rút ra được một
sự chỉ dẫn về phương hướng mà cuộc bùng nổ sắp tới, có lẽ cũng
chẳng còn xa nữa, sẽ buộc dân tộc Đức phải đi theo.
Vậy trước hết, tình hình nước Đức ngay trước lúc nổ ra cách mạng,
là như thế nào?
Lúc bấy giờ, thành phần các giai cấp khác nhau trong nhân dân tạo
thành nền tảng của mọi tổ chức chính trị ở Đức thì phức tạp hơn ở
mọi nước khác. Trong khi ở Anh và ở Pháp, chế độ phong kiến đã bị
giai cấp tư sản giàu và mạnh, tập trung trong các thành thị lớn và đặc
biệt là ở thủ đô, xóa bỏ hoàn toàn hoặc ít ra, như ở Anh, cũng chỉ còn
là một số tàn tích không đáng kể, thì ở Đức, giai cấp quý tộc phong
kiến vẫn còn giữ được phần lớn những đặc quyền cũ của nó. Chế độ
sở hữu ruộng đất phong kiến còn thống trị ở hầu khắp mọi nơi. Các
lãnh chúa phong kiến còn giữ được cả quyền xét xử những nông dân
phụ thuộc của họ. Tuy mất đặc quyền chính trị, - tức là quyền kiểm
soát các quốc vương, - nhưng họ vẫn giữ được hầu hết mọi quyền
thống trị trung cổ của họ đối với nông dân ở trong lãnh địa của họ, và
cả quyền được miễn thuế nữa. Trong một số miền, chế độ phong
kiến có mạnh hơn ở trong một số miền khác, nhưng trừ tả ngạn sông
Ranh ra thì chưa ở đâu, chế độ ấy bị hoàn toàn tiêu diệt. Giai cấp quý
tộc phong kiến ấy, lúc bấy giờ rất đông đảo và có khi rất giàu có
được chính thức xem là "đẳng cấp" đứng đầu trong nước. Nó cung
cấp những quan lại cao cấp cho nhà nước và chiếm hầu hết những
chức vụ sĩ quan trong quân đội.
Giai cấp tư sản Đức không giàu có và thống nhất bằng giai cấp tư
sản Pháp hoặc Anh. Những ngành công nghiệp cũ của Đức đã bị
việc du nhập máy hơi nước và ưu thế đang phát triển nhanh chóng
của công nghiệp Anh làm cho phá sản. Những ngành công nghiệp
hiện đại hơn được xây dựng ở những miền khác trong nước nhờ
chính sách phong tỏa của lục địa của Na-pô-lê-ông[3*] vẫn không bù
đắp được những mất mát của các ngành công nghiệp cũ và không đủ
làm cho công nghiệp được chú ý đến mức khả dĩ bắt buộc các chính
phủ vốn thù ghét mọi sự tích lũy của cải và quyền lực của các tầng
lớp không phải là quý tộc, phải tính đến nhu cầu của nó. Nếu nước
Pháp đã đưa nền công nghiệp tơ lụa của mình vượt qua được một
cách thắng lợi tất cả những thử thách của năm mươi năm cách mạng
và chiến tranh, thì nước Đức, cũng trong khoảng thời gian ấy, lại đã
mất hầu như gần hết công nghiệp bông vải sợi cũ của mình. Ngoài
ra, những khu công nghiệp thì không nhiều, lại ở rải rác xa nhau. Do
nằm sâu trong nội địa, những khu công nghiệp ấy lại chủ yếu sử
dụng những hải cảng nước ngoài như của Hà Lan hay của Bỉ để
nhập khẩu và xuất khẩu, nên chúng có ít hoặc không có những lợi ích
chung với các hải cảng lớn ở miền biển Ban-tích và ở biển Bắc;
nhưng cái chính là những khu công nghiệp ấy đã không có khả năng
tạo nên được những trung tâm công nghiệp và thương mại lớn như
Pa-ri và Li-ông, Luân Đôn và Man-se-xtơ. Tình trạng lạc hậu đó của
công nghiệp Đức có nhiều nguyên nhân, nhưng để giải thích tình
trạng lạc hậu đó chỉ cần vạch ra hai nguyên nhân là đủ: vị trí địa lý
không thuận lợi của nước Đức, nó ở xa Đại Tây Dương - một con
đường lớn của thương mại quốc tế, - và những cuộc chiến tranh liên
miên mà nước Đức đã bị lôi cuốn vào ở ngay trên lãnh thổ của mình
suốt từ thế kỷ XVI đến nay. Số lượng ít ỏi và nhất là tình trạng không
tập trung của giai cấp tư sản Đức đã cản trở nó giành được bá quyền
chính trị mà giai cấp tư sản Anh đã có từ năm 1688 và giai cấp tư
sản Pháp đã đoạt được vào năm 1789. Mặc dầu thế, từ năm 1815,
của cải và cùng với của cải là ảnh hưởng chính trị của giai cấp tư sản
Đức vẫn không ngừng tăng lên. Các chính phủ, dù không muốn,
cũng bắt buộc ít ra là phải tính đến những lợi ích vật chất trực tiếp
của giai cấp tư sản. Thậm chí có thể nói thẳng ra rằng từng mẩu ảnh
hưởng chính trị nhượng cho giai cấp tư sản trong các hiến pháp của
các tiểu bang, đều đã bị tước đoạt trở lại trong những thời kỳ phản
động chính trị từ năm 1815 đến năm 1830 và từ năm 1832 đến năm
1840, và từng mẩu ảnh hưởng ấy lại được đền bù bằng một sự
nhường lại một lợi ích thiết thực hơn. Mỗi một thất bại chính trị của
giai cấp tư sản đều dẫn đến một thắng lợi trong lĩnh vực pháp chế
thương mại. Và dĩ nhiên là đối với các nhà thương mại và công
nghiệp Đức, biểu thuế quan bảo hộ của nước Phổ năm 1818 và sự
thành lập Liên minh thuế quan[4*] còn có nhiều giá trị hơn là cái
quyền hạn không rành rọt là có thể phát biểu ở những nghị viện của
một công quốc nhỏ nào đó sự không tín nhiệm của họ đối với những
bộ trưởng chẳng thèm đếm xỉa gì đến những biểu quyết của họ cả.
Như vậy là với của cải tăng thêm và hoạt động thương mại ngày
càng mở rộng, giai cấp tư sản chẳng bao lâu đã bước vào thời kỳ mà
nó nhận thấy rằng sự phát triển của những lợi ích quan trọng nhất
của nó bị cản trở bởi cơ cấu chính trị của đất nước, bởi tình trạng
chia năm, xẻ bảy của đất nước giữa ba mươi sáu vương hầu có
những nguyện vọng và sở thích đối lập nhau, bởi những xiềng xích
phong kiến trói buộc nông nghiệp và trói buộc nền thương nghiệp gắn
liền với nông nghiệp, bởi sự kiểm soát xoi mói mà một bộ máy quan
liêu ngu dốt và hống hách thi hành đối với tất cả những giao dịch của
nó. Đồng thời, việc mở rộng và củng cố Liên minh thuế quan, việc áp
dụng phổ biến máy hơi nước vào những phương tiện vận tải, sự
cạnh tranh ngày càng tăng ở thị trường nội địa, - tất cả những cái đó
đã làm cho các giai cấp thương nhân và công nghiệp của các bang
và tỉnh khác nhau gần gũi nhau, đã làm cho quyền lợi của họ trở
thành nhất trí và lực lượng của họ tập trung lại. Một hậu quả tự nhiên
của điều đó là cả bọn họ đã chạy sang phe đối lập tự do chủ nghĩa và
giai cấp tư sản Đức đã thu được thắng lợi trong cuộc đấu tranh quan
trọng đầu tiên để giành quyền chính trị. Có thể coi sự biến chuyển đó
là bắt đầu vào năm 1840, khi mà giai cấp tư sản Phổ nắm được
quyền lãnh đạo phong trào tư sản ở Đức. Sau này, chúng tôi sẽ còn
bàn về phong trào ấy của phái đối lập - tự do chủ nghĩa vào những
năm 1840 - 1847.
Bộ phận quần chúng cơ bản của dân tộc, những người không thuộc
tầng lớp quý tộc, cũng không thuộc giai cấp tư sản, là gồm giai cấp
tiểu thủ công, tiểu thương và công nhân, ở thành thị, và gồm nông
dân, ở nông thôn.
Ở Đức giai cấp tiểu thủ công và tiểu thương thì rất đông vì sự phát
triển của giai cấp đại tư bản và đại công nghiệp ở đó yếu. Trong
những thành thị lớn hơn, giai cấp ấy hầu như chiếm đại đa số trong
dân cư, trong những thành thị nhỏ, nó chiếm ưu thế tuyệt đối vì
không có kẻ cạnh tranh có thế lực hơn và giàu có hơn.
Đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tất cả các quốc gia hiện
đại và trong tất cả mọi cuộc cách mạng hiện đại, giai cấp ấy lại đặc
biệt quan trọng ở Đức, nơi mà nó thường đóng vai trò quyết định
trong cuộc đấu tranh gần đây. Địa vị trung gian của nó ở giữa giai
cấp tư sản lớn hơn, - những nhà công thương nghiệp, giai cấp tư sản
theo nghĩa riêng của từ này, - và giai cấp vô sản hay giai cấp công
nhân công nghiệp, quyết định tính chất riêng của nó. Nó thèm ngoi
lên địa vị của giai cấp tư sản, nhưng chỉ một rủi ro nhỏ cũng đẩy
những cá nhân trong giai cấp tiểu tư sản ấy vào hàng ngũ của giai
cấp vô sản. Trong những nước quân chủ và phong kiến, giai cấp tiểu
thủ công và tiểu thương sở dĩ tồn tại được là nhờ những khách hàng
trong triều đình và trong giai cấp quý tộc; mất món khách hàng này
thì một bộ phận lớn của giai cấp ấy sẽ bị phá sản. Trong những thành
thị nhỏ hơn thì một đơn vị đồn trú, một cơ quan chính quyền địa
phương, một tòa án với đám tùy tùng của nó, thường là nền tảng của
sự phồn thịnh của giai cấp ấy, xóa bỏ những thiết chế ấy đi thì cũng
đi đời những chủ hiệu nhỏ, thợ may, thợ đóng giày, thợ mộc. Vì vậy
nó luôn luôn ngả nghiêng giữa hy vọng vươn lên hàng ngũ giai cấp
giàu có hơn và nỗi lo sợ bị rơi xuống địa vị của giai cấp vô sản hoặc
thậm chí xuống thành những người cùng khổ, giữa hy vọng đảm bảo
lợi ích của mình bằng cách giành lấy một phần quyền lãnh đạo công
việc nhà nước và nỗi kinh sợ là nếu đối lập không đúng lúc sẽ gây
nên sự tức giận của cái chính phủ quyết định sinh mệnh của mình vì
chính phủ có thể tước mất những khách hàng quý nhất của mình. Nó
có một tài sản rất nhỏ bé, mà số lượng của tài sản này là tỷ lệ nghịch
với tính không bền vững của nó.
Hậu quả của tất cả những điều đó là những quan điểm của giai
cấp này rất bấp bênh. Khúm núm và phục tùng hèn hạ trước một
chính quyền phong kiến hay quân chủ mạnh, giai cấp ấy nghiêng về
chủ nghĩa tự do khi giai cấp tư sản đang đi lên; nó có nhiều cơn bột
phát dân chủ chủ nghĩa ngay khi giai cấp tư sản nắm được quyền
thống trị, nhưng khi giai cấp vô sản, tức là giai cấp bên dưới nó, triển
khai một phong trào độc lập thì nó lại rơi vào chính tình trạng hèn hạ
thảm hại. Trong quá trình trình bày, chúng ta sẽ thấy giai cấp ấy ở
Đức lần lượt chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác như thế
nào.
Giai cấp công nhân ở Đức, trong quá trình phát triển xã hội và chính
trị của mình, cũng lạc hậu so với giai cấp công nhân Anh, Pháp,
giống như giai cấp tư sản Đức so với giai cấp tư sản của các nước
ấy. Thầy nào thì tớ ấy. Sự tiến triển của những điều kiện cần thiết
cho sự tồn tại của một giai cấp vô sản đông đúc, mạnh mẽ, tập trung
và giác ngộ thì đi song song với sự tiến triển của những điều kiện tồn
tại của một giai cấp tư sản đông đúc, giàu có, tập trung và mạnh mẽ.
Bản thân phong trào công nhân không bao giờ trở thành một
phong trào độc lập, không bao giờ mang tính chất triệt để vô sản,
chừng nào các bộ phận khác nhau của giai cấp tư sản, nhất là bộ
phận tiến bộ nhất của nó là các nhà đại công nghiệp, chưa giành
được chính quyền và cải biến nhà nước theo nhu cầu của họ. Chính
lúc ấy là lúc mà sự xung đột tất yếu giữa chủ và thợ mới trở nên
không tránh khỏi và không thể trì hoãn được, lúc ấy người ta không
thể tiếp tục nuôi những hy vọng hão huyền trong công nhân và đưa
ra những lời hứa hẹn chẳng bao giờ được thực hiện; mà cuối cùng,
vấn đề lớn của thế kỷ XIX, vấn đề xóa bỏ giai cấp vô sản, mới được
đưa ra, một cách hoàn toàn đầy đủ, rõ ràng.
Nhưng ở Đức, đại đa số giai cấp công nhân không làm thuê cho
những vua chúa hiện đại của công nghiệp mà nước Anh đã cung cấp
những kiểu mẫu tuyệt vời, song lại làm thuê cho các người tiểu thủ
công mà tất cả lề lối sản xuất chỉ là tàn dư của thời trung cổ. Và giữa
ông vua bông vải sợi lớn và người chủ hiệu giày nhỏ hay bác phó
may có sự khác biệt nhau to lớn thế nào thì giữa người công nhân
công xưởng rất giác ngộ của những Ba-bi-lon công nghiệp hiện đại
với bác thợ may rụt rè hay bác thợ mộc của một thị trấn nhỏ quê
mùa, mà điều kiện sinh hoạt và phương thức làm việc không khác
mấy những thợ bạn các phường hội cách đây năm thế kỷ, cũng có
sự khác biệt như vậy. Không có những điều kiện sinh hoạt hiện đại
ấy, những phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại ấy, nên
đương nhiên là cũng hầu như không có luôn cả những tư tưởng hiện
đại. Chính vì thế mà không lấy làm lạ là khi cách mạng nổ ra, một
phần lớn công nhân lại lớn tiếng đòi khôi phục ngay những hàng hội
và những phường hội có đặc quyền của thời trung cổ. Mặc dù vậy,
nhờ ảnh hưởng của các khu công nghiệp, nơi mà hệ thống sản xuất
hiện đại chiếm ưu thế và nhờ những khả năng tiếp xúc qua lại dễ
dàng và việc mở mang trí tuệ mà lối sống lưu động của một số đông
thợ thuyền thúc đẩy, nên giữa họ đã hình thành một hạt nhân mạnh
mẽ gồm những phần tử mà những tư tưởng về vấn đề giải phóng giai
cấp của họ đều hết sức rành mạch và phù hợp hơn với những sự
kiện hiện tại và những nhu cầu lịch sử.
Nhưng đó chỉ là một thiểu số. Nếu có thể xem như phong trào tích
cực của giai cấp tư sản là bắt đầu từ năm 1840 thì phong trào của
giai cấp vô sản lại bắt đầu từ những cuộc khởi nghĩa của công nhân
Xi-lê-di và Bô-hêm[3] năm 1844[5*].
Lát nữa, chúng ta sẽ có dịp điểm qua những giai đoạn khác nhau
của phong trào ấy.
Sau cùng, còn có giai cấp đông đảo gồm những phéc-mi-ê nhỏ, có
nông dân, với đám công nhân nông nghiệp phụ thuộc của mình, là
giai cấp chiếm đại đa số trong toàn thể dân tộc. Nhưng bản thân giai
cấp này lại chia thành nhiều nhóm khác nhau.
Trước hết chúng ta thấy đây là những nông dân khá giả - Gross và Mittelbauern[4] như ở Đức người ta gọi, họ là chủ nhân của những
trang trại ít nhiều rộng lớn và sử dụng sức lao động của một số công
nhân nông nghiệp. Đối với giai cấp này, giai cấp nằm giữa một bên là
những đại địa chủ phong kiến được miễn thuế với một bên là những
nông dân nghèo và công nhân nông nghiệp thì vì những lý do hoàn
toàn dễ hiểu, đường lối chính trị tự nhiên nhất của họ là liên minh với
giai cấp tư sản chống phong kiến ở các thành thị.
Thứ hai, là những người tiểu nông tự do chiếm ưu thế ở vùng
Ranh, ở đó chế độ phong kiến đã bị sụp đổ dưới những đòn mãnh
liệt của cách mạng Pháp. Rải rác ở các vùng khác, có những tiểu
nông tự do, họ đã chuộc lại được các đảm phụ phong kiến xưa kia đè
nặng lên đất đai của họ. Nhưng giai cấp này cũng chỉ là nông dân tự
do trên danh nghĩa mà thôi, vì tài sản của họ thường đã bị cầm cố
đến mức độ và với những điều kiện nặng nề đến nỗi chủ nhân thực
sự của ruộng đất không phải là người nông dân tự do nữa, mà kẻ
cho vay nặng lãi đã ứng tiền trước cho họ. Thứ ba, là những nông
dân phụ thuộc của lãnh chúa phong kiến mà người ta khó lòng đuổi
được ra khỏi ruộng đất của họ, nhưng họ phải nộp địa tô vĩnh viễn
cho địa chủ hoặc vĩnh viễn làm một công việc nào đó cho địa chủ.
Cuối cùng là những công nhân nông nghiệp, thân phận của họ trong
nhiều điền trang lớn rất giống thân phận của giai cấp ấy ở Anh, họ
bao giờ cũng sống nghèo và chết khổ, thiếu ăn và làm nô lệ cho chủ.
Ba tầng lớp sau ấy của dân cư nông nghiệp - những tiểu nông tự do,
những nông dân phụ thuộc của lãnh chúa phong kiến và những công
nhân nông nghiệp, - trước cách mạng, không bao giờ quan tâm tới
chính trị; nhưng rất rõ ràng là cách mạng phải mở ra cho họ một con
đường làm ăn mới với những triển vọng rực rỡ nhất. Cách mạng sẽ
mang lại cho mỗi giai cấp ấy những lợi ích, cho nên có thể tin rằng tất
cả họ sẽ lần lượt tham gia phong trào một khi phong trào đã hoàn
toàn triển khai.
Nhưng đồng thời điều cũng không kém phần rõ rệt và cũng được
lịch sử tất cả các nước tiên tiến chứng minh là dân cư nông nghiệp,
vì họ ở rải rác trên một diện tích rất rộng và vì rất khó gây được một
sự nhất trí trong một bộ phận đông đảo của họ, nên không bao giờ có
thể tiến hành thắng lợi một phong trào độc lập. Họ cần có một sự
thúc đẩy ban đầu của những người dân thành thị, sống tập trung
hơn, sáng suốt hơn và hoạt động hơn.
Sự phác họa sơ lược ấy về những giai cấp quan trọng nhất họp
thành dân tộc Đức trong lúc nổ ra những p
 






Các ý kiến mới nhất