THẦY, CÔ THƯỞNG TRÀ

LY CÀ PHÊ VỊ ĐƯỢM

Liên kết website

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GD

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC PHÒNG

Tài nguyên dạy học

TIN TỨC GIÁO DỤC

Điều tra ý kiến

Bạn truy cập trang web của Câu lạc bộ Violet Hải Dương là nhằm mục đích
Giao lưu, học hỏi, giúp đỡ đồng nghiệp.
Thư giãn sau các giờ căng thẳng.
Chỉ để tải tài liệu của CLB.
Xây dựng cộng đồng Violet Hải Dương đoàn kết, thân ái.
Một lí do khác.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Khách đến Câu lạc bộ

    9 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với CLB Giáo viên Hải Dương.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11

    HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    che-do-dan-chu-nha-nuoc-va-xa-hoi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
    Ngày gửi: 09h:25' 06-03-2026
    Dung lượng: 448.9 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Chế độ dân chủ:
    Nhà nước và xã hội
    N. B. Davletshina, B. B. Kimlika, R. J. Klark, D. U. Rai
    Người dịch: Phạm Minh Ngọc

    Mục lục
    Lời người dịch............................................................................................................................................3
    Lời nói đầu.................................................................................................................................................4
    Chương 1....................................................................................................................................................5
    1. Dân chủ là gì?....................................................................................................................................5
    2. Nhà nước pháp quyền........................................................................................................................9
    3. Lịch sử của nền dân chủ..................................................................................................................11
    Chương 2: Xã hội và các giá trị dân chủ..................................................................................................15
    1. Các điều kiện kinh tế xã hội của chế độ dân chủ............................................................................15
    2. Xã hội công dân...............................................................................................................................18
    3. Các giá trị đạo đức của nền dân chủ................................................................................................19
    Chương 3: Nhân quyền trong xã hội dân chủ..........................................................................................23
    1. Các quyền của con người và nguồn gốc của chúng........................................................................23
    2. Các quyền chính trị và quyền dân sự...............................................................................................27
    3. Các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá..............................................................................................30
    4. Quyền và quyền tự do của con người trong Hiến pháp Liên bang Nga..........................................33
    Chương 4: Nhà nước và chính quyền......................................................................................................36
    1. Hệ thống chính trị và nhà nước. Các hình thức quản lí nhà nước và chế độ chính trị....................36
    2. Các chế độ dân chủ thường gặp.......................................................................................................39
    Chương 5: Bầu cử - cơ chế thực thi dân chủ quan trọng.........................................................................46
    1. Bầu cử là gì?....................................................................................................................................46
    2. Hệ thống bầu cử tại Nga..................................................................................................................50
    Chương 6: Các đảng chính trị và tổ chức xã hội......................................................................................52
    1. Các chính đảng trong xã hội dân chủ..............................................................................................52
    2. Các nhóm quyền lợi. Vai trò của giới tinh hoa................................................................................59
    Chương 7: Văn hóa và dân chủ................................................................................................................64
    1. Văn hóa chính trị là gì?...................................................................................................................64
    2. Dân chủ và giáo dục........................................................................................................................66
    3. Vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong nền dân chủ...............................................67
    4. Văn hóa quyền lực...........................................................................................................................68
    Chương 8: Nước Nga giữa quá khứ và tương lai.....................................................................................70
    Phụ lục......................................................................................................................................................74
    Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.....................................................................................................74

    Lời người dịch
    Tác phẩm này được xuất bản như là cuốn sách giáo khoa về dân chủ cho các trường trung học của nước
    Cộng hoà Liên bang Nga, nhưng nó đã gây được sự chú ý không chỉ trong giới học sinh, giáo viên và
    phụ huynh mà được dư luận đánh giá rất cao. Lí do: nước Nga đang “khát” các kiến thức về thực hành
    dân chủ, đúng như các tác giả đã viết trong lời nói đầu: “khát vọng tự do có thể là bẩm sinh nhưng thực
    hành dân chủ thì phải học mới biết”.
    Khi dịch chúng tôi đã lược bớt những đoạn liên quan đến lịch sử nước Nga, có thể trở thành khó hiểu
    đối với người đọc Việt Nam, chúng tôi cũng không dịch chương về nhà nước liên bang, phụ lục thứ
    nhất (Hiến pháp Cộng hoàLiên bang Nga 1993) và các câu hỏi ôn tập.

    Lời nói đầu
    Thưa các bạn độc giả!
    Nước Nga đang trải qua một giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của mình. Chúng ta đang
    mở ra một kỉ nguyên mới của lịch sử - kỉ nguyên dân chủ. Lần đầu tiên người dân Nga có cơ hội gây
    ảnh hưởng đến đời sống của đất nước và xã hội, cũng như có thể tác động đến chính sách của chính
    phủ. Vì vậy cuốn sách của chúng tôi được lấy tên là Chế độ dân chủ: nhà nước và xã hội. Tất cả chúng
    ta đều phải học qua trường học dân chủ: kể cả người vừa bước vào đời cũng như người đã trải qua
    nhiều kinh nghiệm sống, vì khát vọng tự do có thể là bẩm sinh nhưng thực hành dân chủ thì phải học
    mới biết.
    Khi viết tác phẩm này, chúng tôi cố gắng sử dụng thật nhiều kinh nghiệm quốc tế mà mình đã thu thập
    được. Các nguyên tắc dân chủ đã phát triển thành công trong hàng loạt nước. Các nước như Mĩ, Anh,
    Pháp, Canada và nhiều nước khác đã cho ta nhiều hình mẫu tốt về dân chủ, cũng như giúp ta tránh
    những khuyết điểm có thể xảy ra. Trong vài chục năm gần đây, dân chủ đã trở thành hiện tượng toàn
    cầu, nó được củng cố trên khắp các châu lục, đã giành chiến thắng trong các nước Đông Âu, Á, Phi và
    Mĩ Latin.
    Mong rằng cuốn sách bạn đang nắm trong tay sẽ là một nấc thang trên đường đưa bạn trở thành một
    con người tự do và tự chủ, giúp bạn tham gia vào công cuộc xây dựng nước Nga dân chủ của chúng ta.
    Cuốn sách này do các chuyên gia Nga và Canada chấp bút và là thử nghiệm đầu tiên trong việc soạn
    sách giáo khoa về dân chủ. Có thể bạn sẽ không tìm được câu trả lời cho tất cả những câu hỏi mà cuộc
    sống đang đặt ra hôm nay, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng những lời phê bình, nhận xét, góp ý của bạn
    sẽ giúp chúng tôi hoàn thiện tác phẩm trong tương lai.

    Chương 1
    Dân chủ (demos - nhân dân, kratos - chính quyền) một từ có gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa chính quyền
    của nhân dân hay quyền quản lí của nhân dân. Trong hàng ngàn năm, những bộ óc ưu tú nhất của loài
    người đã cố gắng tìm hiểu lịch sử phát triển của xã hội, đã tạo ra các hệ thống triết học, đã vẽ ra hình
    ảnh của xã hội lí tưởng trong đó mỗi người có thể cải thiện cuộc sống của mình cũng như của đồng bào
    mình.
    Chúng ta vẫn thường sử dụng từ “dân chủ”: “hình thức quản lí dân chủ”, “người dân chủ”, “quan điểm
    dân chủ”... Chúng ta đã đưa vào các khái niệm này những nội dung gì? Tại sao chúng ta lại hay sử
    dụng từ này như vậy?
    Ta có thể thấy ngay rằng thuật ngữ “dân chủ” tuy đơn giản và thường được sử dụng lại hàm chứa trong
    nó một số khó khăn cả về phương diện triết học cũng như phương diện thực tế. Đã có nhiều cuốn sách
    giải thích ý nghĩa khái niệm “dân chủ”. Các cuộc thảo luận và tranh luận xung quanh lí thuyết dân chủ
    chưa bao giờ ngưng suốt thời gian tồn tại của xã hội loài người. Ước mơ vĩnh hằng của loài người là
    xây dựng một xã hội công bằng, dựa trên lí tính đã sản sinh ra biết bao con người có lòng nhân ái vĩ đại
    cũng như những tên bạo chúa khát máu, những cuộc cải cách tiên phong và các cuộc chiến tranh tàn
    khốc, làm mê hoặc trí tưởng tượng của hàng triệu người, đã sản sinh ra lí thuyết và các chế độ toàn trị.
    Loài người đã nghĩ ra hàng chục luận cứ ủng hộ và cũng bằng ấy luận cứ chống lại thể chế dân chủ.
    Những kẻ chống đối việc tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào các lĩnh vực quản lí thường
    nói như sau: “Chả lẽ mọi người ngồi trong ô tô đều tham gia lái ư: người thì cầm vô lăng, kẻ lên ga, kẻ
    nhấn phanh, kẻ bóp còi hay sao... giao cho một người có hiểu biết, còn những người khác đóng vai
    hành khách lại chẳng tốt hơn hay sao?”
    Những kẻ độc tài cũng như nhiều lãnh tụ đã giữ chặt tay lái để đưa hành khách đến cuộc đời “mới, tốt
    đẹp hơn”. Những người không đồng ý và những người nghi ngờ vào sự đúng đắn của con đường
    thường bị vất ra khỏi xe để làm bài học cho những kẻ khác.

    1. Dân chủ là gì?
    Xin bạn hãy suy nghĩ thêm về các định nghĩa và ý kiến trái ngược, hãy tôn trọng các tác giả của chúng
    và cố gắng lí giải xem vì sao nhà kinh tế học, triết gia và nhà hoạt động xã hội người Anh là J. S. Mill
    lại quan ngại một nền tự do vô giới hạn khi cho rằng đấy là “nền độc tài của số đông”, còn triết gia Hi
    Lạp cổ đại, Democritus, thì lại cho rằng thà sống “nghèo trong một nước dân chủ còn hơn là hạnh phúc
    trong một nước độc tài, vì tự do tốt hơn nô lệ”. Các nhà chính trị học ngày nay thường định nghĩa dân
    chủ là hình thức tổ chức chính trị của xã hội dựa trên sự công nhận nhân dân như là nguồn gốc của
    quyền lực, dựa trên quyền của nhân dân trong việc tham gia giải quyết những vấn đề của quốc gia và
    giao cho các công dân một loạt quyền và quyền tự do thực sự. N. V. Gogol trong Những linh hồn chết
    đã viết về đặc điểm của người Nga như sau: “nói chung chúng ta chưa sẵn sàng cho các cuộc hội nghị
    mang tính đại diện. Tất cả các cuộc họp của chúng ta, từ những cuộc gặp gỡ trong làng cho đến các
    cuộc hội nghị khoa học đủ mọi loại, thường rất lộn xộn nếu không có một người đủ sức kiểm soát mọi
    việc đứng đầu”. Cựu tổng thống Mĩ, R. Reagan, thì cho rằng dân chủ không chỉ là biện pháp quản lí mà
    còn là biện pháp giới hạn quyền lực của chính phủ để nó không ngăn cản sự phát triển những giá trị
    quan trọng nhất mà con người nhận được từ gia đình và nhà trường. Abraham Lincoln (luật sư, nhà

    hoạt động chính trị, năm 1860 được bầu làm tổng thống Hoa Kì) thì cho rằng dân chủ là chính quyền
    của dân, do dân và vì dân.
    Bạn có thể sử dụng các cuốn từ điển và bách khoa toàn thư để tìm một định nghĩa khác, phù hợp với
    mình hơn... Bạn sẽ ngạc nhiên là tại sao lại có nhiều định nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau đến thế. Xin
    cứ bình tĩnh bởi vì theo lời của triết gia người Anh, ông Karl Popper, thì chúng ta chọn dân chủ không
    phải vì nó có nhiều đức tính tốt mà chỉ là để tránh chế độ độc tài mà thôi.
    Nhà sử học, nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Pháp, ông Alexis de Tocqueville, ngay từ năm 1835
    đã nhận thấy rằng những khuyết điểm và yếu kém của nền dân chủ rất dễ bị phát hiện và chứng minh
    được bằng các sự kiện rõ ràng (khó ra quyết định, thảo luận kéo dài...), trong khi các ưu điểm của nó lại
    khó nhận thấy hơn. Khuyết điểm thì lộ rõ ngay, còn ưu điểm thì phải sau một thời gian mới thấy được...
    Tại sao dân chủ lại có sức lôi cuốn như thế? Trước khi trả lời câu hỏi này xin hãy cùng suy nghĩ: chả lẽ
    tất cả mọi người đều muốn quản lí, muốn nắm quyền ư? Dĩ nhiên là không. Nhưng ý tưởng cho rằng
    phải tự mình quyết định điều gì là tốt, điều gì là xấu và chính sách là cái có ảnh hưởng tới tất cả mọi
    người phải được soạn thảo trên cơ sở đồng thuận là một tư tưởng có sức hấp dẫn cực kì mạnh mẽ. Như
    vậy điều quan trọng đối với mỗi người không phải là bản thân sự tham gia, mà là quyền được tham gia
    vào đời sống của đất nước, của tập thể, của gia đình, v.v...
    Bản chất của dân chủ là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân con người. Nói một cách khác,
    đặc trưng quan trọng nhất, bản chất của dân chủ là quyền tự do cá nhân, là tôn trọng cá nhân con người,
    “công nhận phẩm giá vốn có của mọi thành viên gia đình nhân loại, công nhận các quyền bình đẳng và
    bất khả phân của họ là cơ sở của tự do, công bằng và hoà bình trên toàn thế giới...”, lời nói đầu của
    Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã viết như thế (xem thêm phần phụ lục).
    Như vậy dân chủ đòi hỏi quyền bình đẳng của tất cả các công dân, không phụ thuộc vào màu da, giới
    tính, ngôn ngữ, tôn giáo, thành phần xuất thân, tài sản, đẳng cấp, niềm tin, v.v... Nhưng phải hiểu bình
    đẳng là bình đẳng về cơ hội, bình đẳng trước pháp luật và bình đẳng trong việc chọn người đại diện.
    Điều đó không có nghĩa là mọi người phải sống như nhau, phải đọc cùng một loại sách, phải có cùng
    thu nhập. Nói đến dân chủ trước hết chúng ta hiểu rằng đấy là quyền của con người trong việc tham gia
    quản lí nhà nước thông qua các cơ chế khác nhau, quyền làm một thành viên bình đẳng trong một tập
    thể nào đó, có điều kiện thể hiện quan điểm của mình và được lắng nghe.
    Điều đó có nghĩa là chúng ta lựa chọn dân chủ trên cơ sở niềm tin vào sự bình đẳng của mọi công dân.
    Một mặt đấy là niềm tin vào quyền tự do của mỗi người và mặt khác tin rằng tự do của người này
    không được trở thành cản trở tự do của những người khác. Karl Popper minh hoạ điều đó như sau. Toà
    án xét xử vụ một tên lưu manh đánh người hàng xóm. “Tôi là công dân tự do”, tên lưu manh tự bào
    chữa, “tôi có quyền vung nắm đấm về mọi hướng chứ”. Quan toà đã khéo léo đáp: “Chuyển động của
    nắm đấm của anh bị giới hạn bởi mũi của người hàng xóm”. Nói một cách khác, bạn được tự do hành
    động khi mà hành động đó không gây phương hại cho người khác, những người cũng có những quyền
    tự do như bạn.
    Quyền bình đẳng tham gia vào việc bầu chọn các nhà lãnh đạo cũng dựa trên cơ sở như thế. Trong chế
    độ dân chủ mỗi người đều có một lá phiếu và các lá phiếu có giá trị ngang nhau. Trên thực tế lí tưởng
    về tự do và bình đẳng dĩ nhiên là cũng có một số khiếm khuyết. Không cần phải tiến hành những cuộc
    nghiên cứu phức tạp cũng thấy rằng ngay tại những nước có nền dân chủ phát triển không phải tất cả
    các công dân đều bình đẳng trong việc sử dụng quyền tự do của mình. Thí dụ cựu tổng thống Mĩ, Bill
    Clinton, đã định bãi bỏ điều luật mà theo đó để được tham gia bầu cử người ta phải trải qua kiểm tra

    xem đã thoát nạn mù chữ hay chưa.
    Dân chủ đáp ứng được nhu cầu của con người trong việc tự thể hiện mình và đấy chính là động lực cho
    sáng kiến, cho tự do. Cần phải hiểu rằng dân chủ không phải bắt đầu khi nhân dân được công nhận là
    nguồn gốc của quyền lực trên lời nói, mà phải là khi xây dựng được hệ thống đảm bảo công dân được
    thực sự tham gia và kiểm soát được quyền lực. Dân chủ sẽ thắng lợi hoàn toàn khi tất cả các công dân
    thực sự tham gia và hoàn toàn bình đẳng trong việc giải quyết các công việc của quốc gia. Nhưng đây
    là một mô hình lí tưởng. Trong thực tế còn nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp mà xã hội hiện chưa giải
    quyết được.
    Đến giữa thế kỉ XX đã hình thành ba quan điểm chính về vấn đề dân chủ như sau:
    1. Từ quan điểm nguồn gốc của quyền lực (dân chủ là chính quyền của dân)
    2. Từ quan điểm mục đích (dân chủ là chính quyền hành động nhân danh và vì lợi ích của nhân
    dân)
    3. Và cuối cùng, từ quan điểm các thủ tục thành lập chính phủ.
    Quan điểm cuối cùng được thảo luận rất nhiều. Trên thực tế điều đó có nghĩa là các cuộc bầu cử được
    coi là có vai trò quan trọng nhất vì chính tại các cuộc bầu cử mà hai đặc trưng chủ yếu của dân chủ là,
    thứ nhất, các nhà chính trị sẽ cạnh tranh với nhau để giành cho được càng nhiều phiếu càng tốt; thứ hai,
    trong thời gian bầu cử nhân dân có thể gây ảnh hưởng đến chính sách trong tương lai bằng cách ủng hộ
    ứng cử viên đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của họ. Như vậy dân chủ có tính hấp dẫn là vì nó đáp
    ứng được nhu cầu tự thể hiện của con người, nó là động lực cho sáng kiến và tự do sáng tạo.
    Quyền con người trong xã hội dân chủ phải được đảm bảo. Thí dụ Hiến pháp nước Mĩ có mười tu
    chính gọi là Bill of Rights đảm bảo cho công dân các quyền như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do
    tín ngưỡng, v.v... Tất cả các khái niệm về quyền công dân này được xây dựng trên cơ sở giả thiết rằng
    nhà nước và chính phủ tồn tại là để phục vụ nhân dân. Con người có quyền là vì anh ta là người chứ
    không phải vì nguồn gốc, dân tộc, giới tính, v..v... Mọi công dân đều có một số quyền xác định, bất khả
    phân, không một chính phủ nào có quyền tước đoạt hay hạn chế.
    Nhưng công dân trong một xã hội dân chủ không chỉ cố gắng thỏa mãn các quyền và lợi ích của mình
    mà còn chịu trách nhiệm với cuộc sống của mình và ở một mức độ nào đó trách nhiêm với đời sống của
    những người khác nữa. Dựa vào nhân dân mà lãnh đạo nhân dân có nghĩa là công dân của xã hội dân
    chủ không chỉ sử dụng các phúc lợi của xã hội mà còn chịu trách nhiệm về xã hội mà anh ta đang sống,
    nghĩa là anh ta chia sẻ các khó khăn của xã hội (dưới những hình thức sẽ được xem xét trong những
    chương sau). Theo ý nghĩa này thì mỗi người đều là thiêng liêng và đều cần được bảo vệ. Immanual
    Kant, cha đẻ của nền triết học cổ điển Đức, từng nhấn mạnh: “con người, cá nhân luôn luôn và trong tất
    cả mọi việc đều là mục đích, không bao giờ là phương tiện. Kể cả phương tiện để đạt mục đích”. Ngay
    cả nếu đấy là mục đích cao cả và vĩ đại. Nhưng trong lịch sử loài người, ta lại thường thấy những lời
    tuyên bố về quyền và tự do công dân vang lên như những lời kêu gọi, những khẩu hiệu và không được
    tôn trọng trong thực tế cuộc sống.
    Tự do và bình đẳng sẽ trở thành những lời nói rỗng tuyếch khi con người không được bảo vệ về mặt
    pháp lí và xã hội. Thí dụ điển hình là chế độ toàn trị ở nước Nga sau Cách mạng năm 1917. Quyền con
    người ở nước Nga sau Cách mạng được ghi trong Hiến pháp các năm 1936 và 1977, nhưng trên thực tế
    chế độ toàn trị đã được thành lập với các đặc trưng cơ bản sau:
    1. Nhà nước hoá đảng cầm quyền. Đảng cộng sản độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các chức năng
    của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung và cá nhân nói riêng. Trong

    những năm 1917-1918 sự kháng cự của các tổ chức đối lập như menshevik, dân chủ-xã hội và
    các đảng phái khác bị đập tan. Tháng Giêng năm 1918 người ta đã trắng trợn giải tán Quốc hội.
    Một cơ chế mà trong đó nhân dân bị đẩy khỏi quyến lực đã được hình thành, các thể chế dân
    chủ chỉ còn đóng vai trò “bình phong” che đậy chế độ toàn trị. Ngay từ năm 1921, A. A. Sols,
    Chủ tịch Ủy ban kiểm tra trung ương của Đảng cộng sản Nga (bolshevik), đã nhấn mạnh: “Nắm
    quyền lực lâu trong thời đại chuyên chính vô sản đã tạo ra hiện tượng tha hoá... Đấy là nguyên
    nhân của tệ quan liêu, nguyên nhân của thói kiêu ngạo đối với những đảng viên thường và quần
    chúng ngoài đảng, đấy là nguyên nhân của thói lạm dụng quyền lực cho việc giành quyền lợi
    vật chất cho mình. Đã hình thành đẳng cấp cộng sản”
    2. Lập ra bộ máy đàn áp. Các biện pháp đàn áp khác nhau như Ủy ban khẩn cấp toàn Nga, Bộ nội
    vụ, toà án quân sự, trại tập trung được sử dụng. Các trại lao động và các cuộc huy động bắt buộc
    cũng được sử dụng như là các biện pháp nhằm nắm giữ và củng cố quyền lực.
    3. Khống chế toàn diện thông tin, tiến hành thường xuyên công việc tuyên truyền. Một trong các
    nghị định đầu tiên của chính quyền Bolshevik là nghị định đóng cửa các tờ báo đối lập và thành
    lập chế độ kiểm duyệt. Sau này đã hình thành độc quyền của nhà nước trong việc xuất bản sách
    báo.
    Trong xã hội dần dần hình thành khuôn mẫu trong đó đảng toàn trị đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo của
    mọi phong trào toàn trị với hệ thống cấp bậc, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung
    ương một cách nghiêm ngặt, con người thì bị chia thành địch ta rõ ràng. Xin hãy đọc đoạn trích từ tác
    phẩm Lí thuyết của nền văn hoá vô sản của N. I. Bukharin, một trong các lãnh tụ của phong trào cộng
    sản: “Giai cấp vô sản cầm quyền... có các kẻ thù sau: 1. tầng lớp ăn bám (bọn địa chủ cũ, bọn tư sảndoanh nhân tham gia vào quá trình sản xuất); tư sản thương nghiệp, bọn đầu cơ, ngân hàng, thị trường
    chứng khoán; 2. giới quí tộc hành chính xuất thân từ các tầng lớp nói trên (các quan chức thư lại, tướng
    lĩnh, tăng lữ); 3. các doanh nhân tư bản, giám đốc các tổ hợp (trùm thế giới công nghiệp, các kĩ sư có
    liên hệ với giới tư bản, các nhà phát minh, v.v...); 4. tầng lớp thư lại có tay nghề cả trong lĩnh vực hành
    chính, quân sự và nhà thờ; 5. giới trí thức trong lĩnh vực kĩ thuật và trí thức nói chung (kĩ sư, kĩ thuật
    viên, bác sĩ, giáo sư, luật sư, phóng viên, đa số giáo chức); 6. tầng lớp sĩ quan; 7. phú nông; 8. tư sản
    bậc trung và tiểu tư sản thành thị; 9. giới tu hành...”. Như vậy là trừ bần cố nông còn tất cả các tầng lớp
    dân cư khác đều bị coi là kẻ thù của giai cấp vô sản. Về thực chất đây chính là “chương trình” hủy diệt
    cuộc sống, hủy diệt chính nhân dân Nga... Cái chính sách được tiến hành ở nước Nga trong suốt hơn 70
    năm ấy lại được che đậy bằng những khẩu hiệu về sự thống nhất giữa đảng với dân.
    (Ngày 27 tháng 2 năm 1937, N. I. Bukharin cũng như nhiều nhà lãnh đạo cách mạng tháng Mười đã bị
    đàn áp. Được phục hồi vào tháng 2 năm 1988).
    Đặc điểm cơ bản của tất cả các hệ tư tưởng toàn trị là đàn áp tự do. Chủ nghĩa cá nhân tự do đặt cơ sở
    trên sự tôn trọng cá nhân con người, trên cơ sở trách nhiệm cá nhân bị chế độ toàn trị đem đối lập với
    chế độ tập thể (đám đông), phi cá tính hoá, trách nhiệm tập thể (tội lỗi tập thể), quyền lợi giai cấp (chủ
    nghĩa bolshevik), quyền lợi của tập đoàn (chủ nghĩa phát xít) hay quyền lợi dân tộc (chủ nghĩa xã hộidân tộc). Trong chế độ toàn trị, kinh nghiệm cá nhân bị phủ nhận, quá khứ lịch sử bị xuyên tạc, các
    hình thức tổ chức đời sống và đạo đức cổ truyền bị phủ nhận. Chức năng cơ bản của hệ tư tưởng toàn
    trị là tìm mọi cách lôi kéo quần chúng vào cuộc đấu tranh với cái cũ và thuyết phục họ về tính đúng đắn
    của các quan hệ mới, bào chữa cho chính sách toàn trị. Quốc doanh hoá (nhà nước hoá) tất cả các lĩnh
    vực của đời sống xã hội đã diễn ra một cách từ từ và khi nhà nước đã đặt được sự kiểm soát đối với tất
    cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì ta có thể nói chế độ toàn trị ở quốc gia đó đã “chín muồi”.
    Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn các cuốn: Chủ nghĩa toàn trị trong thế kỉ XX của A. Iu.

    Golovatenko, Khủng bố đỏ của S. P. Melgunov, Quần đảo GULAG của A. I. Solzhenitsyn, xin hãy suy
    nghĩ xem khủng bố bolshevik được thực hiện nhằm chống lại những nhóm xã hội nào.
    Như vậy nghĩa là lịch sử các chế độ toàn trị chứng tỏ rằng tuyên bố về các quyền và tự do cá nhân,
    thậm chí ghi điều đó vào hiến pháp cũng chưa đủ. Cần phải thiết lập được xã hội công dân và nhà nước
    pháp quyền là những thể chế thực thi chức năng kiểm soát đối với chính quyền, ngăn chặn, không cho
    nó biến thành chế độ toàn trị. Đối với những nước khác nhau hình thức của xã hội công dân và nhà
    nước pháp quyền có thể khác nhau (chúng ta sẽ thảo luận vấn đề này trong những chương sau).

    2. Nhà nước pháp quyền
    Nhà nước pháp quyền là gì? Theo chúng tôi nhà nước pháp quyền là qui phạm pháp luật nhằm thực thi
    chủ quyền của nhân dân trong khuôn khổ tổ chức nhà nước. Nghĩa là tất cả quyền lực đều nằm trong
    tay nhà nước nhưng quyền lực đó được đặt cơ sở và thực thi theo những qui phạm pháp lí đã được ghi
    thành luật và được nhân dân thừa nhận.
    Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền là gì? Nó có thể tồn tại trong những điều kiện như
    thế
     
    Gửi ý kiến