THẦY, CÔ THƯỞNG TRÀ

LY CÀ PHÊ VỊ ĐƯỢM

Liên kết website

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GD

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC PHÒNG

Tài nguyên dạy học

TIN TỨC GIÁO DỤC

Điều tra ý kiến

Bạn truy cập trang web của Câu lạc bộ Violet Hải Dương là nhằm mục đích
Giao lưu, học hỏi, giúp đỡ đồng nghiệp.
Thư giãn sau các giờ căng thẳng.
Chỉ để tải tài liệu của CLB.
Xây dựng cộng đồng Violet Hải Dương đoàn kết, thân ái.
Một lí do khác.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Khách đến Câu lạc bộ

    4 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với CLB Giáo viên Hải Dương.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11

    HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    -dau-bo-tu

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
    Ngày gửi: 09h:42' 06-03-2026
    Dung lượng: 1.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    DẤU BỘ TỨ


    The Sign of the Four


    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com










    Ấn bản đầu tiên trên tạp chí The Lippincott's Magazine năm 1890


    Chương 1: Phép Diễn Dịch Là Một Khoa Học
    Chương 2: Trình Bày Nội Vụ
    Chương 3: Đi Tìm Một Giải Đáp












    Chương 4: Câu Chuyện Của Người Hói Đầu
    Chương 5: Tấn Thảm Kịch Ở Biệt Trang Pondicherry
    Chương 6: Sherlock Holmes Bắt Đầu Diễn Giảng
    Chương 7: Câu Chuyện Chiếc Thùng Tô-Nô
    Chương 8: Nghĩa Binh Ở Phố Baker
    Chương 9: Sợi Dây Xích Đứt
    Chương 10: Hết Đời Tên Dân Đảo
    Chương 11: Kho Báu Arga
    Chương 12: Cuộc Đời Kỳ Lạ Của Jonathan Small




    Lần đầu tiên cuốn tiểu thuyết được xuất bản trên tạp chí The Lippincott's
    Magazine, Philadelphia và London, vào tháng 2 năm 1890. Ấn bản đầu tiên của S.
    Blackett xuất bản trong tháng 10 năm 1890.








    Ấn bản lần hai 1892

    Chương 1


    PHÉP DIỄN DỊCH LÀ MỘT KHOA HỌC


    The Science of Deduction




    Shelock Holmes lấy cái chai ở góc lò sưởi rồi rút ống tiêm ra khỏi
    bao da. Những ngón tay dài, xanh, gân guốc chuẩn bị kim tiêm trước
    khi xắn tay áo trái lên. Trong một thoáng, ánh nhìn tư lự của anh
    dừng trên mạng tĩnh mạch ở cẳng tay lỗ chỗ vô số vết tiêm. Anh
    nhấn kim một cách chính xác, đẩy chất nước, rồi ngồi gọn gàng vào
    chiếc ghế bành bọc nhung, thở một hơi dài sảng khoái.

    Từ nhiều tháng nay, tôi đã chứng kiến cảnh này tái diễn mỗi ngày
    ba lần, nhưng tôi vẫn không làm quen được với nó. Ngược lại càng
    ngày tôi càng thấy khó chịu thêm, và cả trong giấc ngủ, đêm đêm,
    lương tâm trách tôi sao không có can đảm để phản đối chuyện này.
    Đã bao nhiêu bận rồi tôi tự nguyện phải làm sao cho tâm hồn mình
    được thanh thản và nói ra những gì cần nói. Nhưng thái độ uể oải và
    dè dặt của bạn tôi không cho phép tôi tọc mạch như thế được.
    Những thiên tư đặc biệt và những phẩm chất khác thường của anh
    mà tôi đã biết rõ khiến tôi phải kiêng nể. Làm trái ý anh, tôi cảm thấy
    thật rụt rè và vụng về biết bao.

    Ấy thế mà, chiều hôm đó, tôi không thể dằn được nữa. Phải chăng

    đó là do chất men của món rượu chúng tôi đã uống vào bữa ăn trưa?
    Hay là vì cái cung cách khiêu khích của anh làm tôi cũng giận anh
    hơn? Dẫu sao, tôi cũng phải lên tiếng.

    - Hôm nay là morphine hay cocaine đấy, anh bạn? Tôi hỏi.

    Cặp mắt đờ đẫn của anh rời khỏi cuốn sách in bằng chữ kiểu
    gotise anh đang cầm trong tay.

    - Cocaine - Anh đáp - dung dịch 7%. Anh muốn dùng thử chút
    chăng?

    - Không, chắc chắn là không rồi! - Tôi đáp, giọng hơi cộc cằn - Sau
    chiến tranh ở Afghanistan, tôi vẫn chưa bình phục hẳn. Tôi không thể
    tự cho phép mình hoang phí sức lực được.

    Giọng điệu sôi nổi của tôi khiến anh mỉm cười.

    - Có lẽ anh nói có lý đấy, Watson ạ. - Anh đáp. - Có thể loại độc
    dược này gây ảnh hưởng tác hại trên thân thể tôi. Nhưng tôi lại thấy
    nó có tác dụng kích thích làm cho đầu óc tôi sáng suốt, nên tôi nghĩ
    là những tác dụng phụ của nó chỉ có một mức độ quan trọng không
    đáng kể.

    - Nhưng anh hãy xét vấn đề trong toàn bộ của nó chứ? - Tôi nói
    lớn bằng một giọng hăng hái - Đúng thế, đầu óc anh có thể minh
    mẫn khác thường, song anh hãy nghĩ đến cái giá mà anh phải trả
    chứ? Đó là một quá trình bệnh hoạn khiến các tổ chức tế bào não bộ
    hồi sinh nhanh chóng, và do đó có thể đưa đến một sự suy nhược
    thường xuyên. Anh cũng từng biết đến tình trạng suy nhược tinh
    thần thảm hại theo sau đó: thế thì cuộc chơi này đâu có bổ? Sao lại
    đành chịu để tiêu tan những tài năng to lớn trong anh để chỉ kiếm lấy
    một khoái cảm thoáng qua thôi? Xin anh nhớ cho rằng lúc này kẻ nói
    với anh chẳng những là người bạn chí tình mà còn là một bác sỹ chịu
    trách nhiệm một phần nào đó về sức khỏe của anh.

    Anh chẳng tỏ vẻ gì là bị xúc phạm. Trái lại anh đan mười đầu ngón
    tay lại với nhau và đặt khuỷu tay lên tay ghế bành trong tư thế của
    một người sắp sửa được thưởng thức một buổi nói chuyện lý thú.

    - Trí óc tôi không chịu nổi tình trạng đình đốn. - Anh đáp - hãy đặt

    cho tôi những bài toán, hãy cho tôi việc làm! Anh cứ giao cho tôi bản
    mật tự bí hiểm nhất hoặc một công trình phân tích phức tạp nhất đi,
    ấy thế là tôi được sống trong bầu không khí thích hợp với tôi rồi đó.
    Lúc bấy giờ tôi chẳng màng đến thứ kích thích tố nhân tạo này nữa
    đâu. Nhưng tôi quá chán ghét cái lề lối đơn điệu và cuộc sống lắm
    rồi. Tôi cần có một liều kích thích về tinh thần. Vả chăng, đó cũng là
    lý do tại sao tôi lại chọn cái nghề kỳ cục này, hay nói đúng hơn, lý dó
    tại sao tôi đã tạo ra nó, bởi lẽ trong loài người như tôi, tôi là kẻ độc
    nhất trên cõi đời này.

    - Tay thám tử tư độc nhất à? Tôi ngước mắt nói.

    - Nhà thám tử duy nhất mà người ta đến hỏi ý kiến – Anh nói rõ
    thêm - Về việc điều tra, sưu tầm, thì chính tôi là tòa án phúc thẩm
    khi mà những anh chàng thám tử như Gregson, Lestrade hay
    Athelney Jones bỏ cuộc thôi không mò ra được nữa. - Một điều đã trở
    thành lề thói ở họ, xin nhắc qua thế thôi – thì những người ấy đến
    tìm tôi. Tôi xem xét các dữ kiện với tư cách một giám định viên và
    phát biểu ý kiến với tư cách là một chuyên gia. Trong những trường
    hợp như vậy, tôi chẳng đòi hỏi rằng vai trò của tôi phải được thừa
    nhận chính thức. Tên tuổi của tôi không xuất hiện trên báo chí. Công
    việc tôi làm, tự bản thân nó, và niềm sảng khoái tìm được môi trường
    hoạt động cho những tài năng thiên phú của tôi cũng đã là phần
    thưởng cao quý nhất cho tôi rồi. Vả lại, anh cũng đã có dịp trông
    thấy tôi làm việc trong vụ Jefferson Hope 1) rồi mà.

    - Quả có vậy thật. Và chưa bao giờ tôi lại kinh ngạc đến như thế.
    Kinh ngạc đến độ từ đó tôi lấy ra tư liệu để viết thành một tập sách
    nhỏ dưới một cái tên kể ra cũng khá kỳ quặc “Chiếc nhẫn tình cờ” 2).

    Anh buồn bã gật đầu.

    - Vâng, tôi có xem qua. Anh nói - Thẳng thắn mà nói thì tôi không
    thể khen ngợi anh được. Việc điều tra là, hoặc phải là, một khoa học
    chính xác; như vậy lúc nào nó cũng phải được tiến hành một cách
    lạnh lùng và không xúc động. Vậy mà anh lại tìm cách sơn phết cho
    nó một màu sắc lãng mạn, thì cũng chẳng khác nào anh đưa một
    chuyện tình hoặc một vụ bắt cóc vào mệnh đề thứ năm của Euclid 3)
    vậy.


    - Nhưng yếu tố lãng mạn tự nó đã có sẵn một cách khách quan rồi
    kia mà - Tôi nói lớn - Tôi đâu có quyền nhào nặn, sửa đổi các sự kiện
    một cách tùy tiện được.

    - Trong những trường hợp như thế ta phải gạt ra ngoài một số sự
    kiện, hoặc nếu có thuật lại, thì phải thuật lại theo một ý nghĩa đúng
    đắn, hợp với tầm vóc của nội dung chuyện kể. Điều đáng lẽ phải
    được ghi nhận trong vụ này là lối lập luận lạ lùng có tính phân tích đi
    ngược từ quả lên nhân, nhờ đó mà tôi mới có thể phăng nó ra được.

    Lời phê bình này khiến tôi đâm bực mình, giận anh ta. Tôi đã
    chẳng động não chủ yếu là để làm anh ta được vừa lòng đó sao.
    Lòng kiêu hãnh của anh đã khiến anh ân hận rằng mỗi dòng tôi viết
    ra trong tập sách nhỏ của tôi đã không nhằm độc nhất vào những
    công việc anh tiến hành. Đã nhiều lần, trong những năm tháng sống
    chung với anh ở phố Baker, tôi nhận ra một thoáng kiêu căng qua cái
    thái độ điềm tĩnh và có tính chất lý thuyết của anh, nên tôi chẳng
    buồn cãi lại, chỉ chăm chú săn sóc vết thương ở chân mình. Cách đây
    khá lâu, một viên đạn đã xuyên thủng qua đó, và tuy vậy tôi vẫn còn
    đi được, nhưng hễ cứ thời tiết thay đổi thì viết thương lại đau nhức.

    - Vừa rồi mạng lưới thân chủ của tôi đã lan đến các nước lục địa Holmes vừa nhồi thuốc vào ống điếu bằng gỗ cây thạch thảo vừa nói
    tiếp - Mới tuần trước đây thôi, Francois le Villard có đến nhờ tôi giúp
    ý kiến. Đó là một người cũng cố đôi chút tiếng tăm trong ngành cảnh
    sát tư pháp của Pháp. Anh ta có sẵn cái trực giác tinh tế của dân
    Celtic 4), nhưng lại thiếu hẳn những kiến thức rộng rãi có thể giúp
    anh ta vươn lên những đỉnh cao nghệ thuật của mình. Nội vụ liên
    quan đến một bản chúc thư và nêu lên một số điểm lý thú tôi đã gợi
    ý với anh ta là nên xem lại hai vụ tương tự, một ở Riga năm 1857,
    một ở St. Louis năm 1871; nhờ đó anh ta đã tìm ra lời giải đáp chính
    xác. Và đây là bức thư cảm ơn tôi vừa nhận được sáng nay.

    Vừa nói, anh đưa cho tôi một tờ giấy vò nhàu, trông đến kỳ quặc.
    Tôi đọc lướt qua: bức thư rặt những từ to tát, như là “rực rỡ”, “một
    sự thành công tuyệt vời”, “một chuyện phi thường ít ai làm nổi” toàn
    là những từ tỏ lòng ngưỡng mộ nồng nhiệt của anh chàng người
    Pháp này.

    - Thư anh ấy viết như đệ tử viết cho thầy - Tôi nói.


    - Ồ! việc tôi giúp đỡ anh ấy không xứng với lời khen tặng như thế
    đâu. - Shelock Holmes nói bằng giọng bông đùa - Bản thân anh ta
    cũng rất có tài; anh ta đã có được hai trong ba phẩm chất thiết yếu
    đối với một người thảm tử toàn diện, đó là khả năng quan sát và khả
    năng suy diễn. Anh ta chỉ còn hiếu sự hiểu biết, nhưng điều này có
    thể đến với thời gian. Anh ta đang dịch những tập tiểu luận nhỏ của
    tôi sang tiếng Pháp.

    - Những tiểu luận của anh à?

    - Ồ, anh không biết gì sao? - Anh vừa cười vừa nói lớn - Vâng,
    đúng vậy, tôi có tội là đã viết ra nhiều tập tiểu luận, nhưng tất cả đều
    thuộc về các vấn đề kỹ thuật. Chẳng hạn như tập tiểu luận này đây:
    “Về sự phân biệt các loại thuốc lá khác nhau”. Một trăm bốn mươi
    loại xì gà, thuốc điếu và thuốc rời được kê ra trong đó, lại còn có
    những bản ảnh chụp màu để minh họa các dạng tro tàn thuốc lá
    khác nhau nữa cơ đấy. Đây là một vấn đề ta thường gặp phải trong
    những vụ án hình sự. Tàn thuốc có thể là dẫn chứng vô cùng quan
    trọng. Chẳng hạn khi anh có thể quả quyết rằng một án mạng nào đó
    là do một người đàn ông hút xì gà Ấn Độ, thì điều này tất nhiên đã
    giới hạn tầm truy cứu của anh rồi. Đối với con mắt nhà nghề, thì sự
    khác nhau giữa tro đen của điếu thuốc hiệu “Trichinopoly” và tro màu
    trắng mịn của loại thuốc lá “Bird s Eye” cũng rõ nét như giữa quả su
    su và củ khoai tây vậy.

    - Anh quả thật là có tài siêu đẳng trong những chi tiết nhỏ nhặt
    nhất!

    - Tôi biết đánh giá tầm quan trọng của chúng. Đây, anh xem đi,
    tập tiểu luận của tôi về việc dò tìm dấu chân, có bổ sung thêm một
    số nhận xét về cách dùng thạch cao Paris để giữ lại dấu chân... cũng
    là một cuốn sách kỳ lạ đấy. Nó bàn về ảnh hưởng nghề nghiệp trên
    hình dạng bàn tay, có ấn bản minh họa, cho thấy dạng bàn tay của
    thợ nề, của thủy thủ, tiều phu, thợ sắp chữ, thợ dệt, và thợ mài hột
    xoàn. Tập sách này có một tầm lợi ích thiết thực đối với nhà thám tử
    khoa học, nhất là để tìm ra tiền sử của một tên tội phạm nào đó hoặc
    trong trường hợp gặp những xác chết vô thừa nhận. À, mà không
    khéo tôi lại làm cho anh đến phát bực mình vì những câu chuyện
    nhảm của tôi.


    - Không đâu! Tôi rất thích là đằng khác, nhất là từ khi tôi có dịp
    ứng dụng những câu chuyện nhảm ấy vào thực tế. À, mà có phải vừa
    lúc nãy anh có đề cập đến vấn đề quan sát, và diễn dịch phải không?
    Theo tôi thì hình như cái nọ phải bao hàm cái kia, ít ra trong một
    phần nào đó, phải thế không?

    - Chậc, chỉ ít thôi! - Anh vừa nói vừa ngả lưng dựa thoải mái vào
    ghế bành, trong khi từng cuộn khói xanh đặc tỏa lên từ chiếc ông
    điếu của anh - Này nhé, do quan sát, tôi biết rằng sáng nay anh có đi
    đến bưu điện phố Wigmore; nhưng chính nhờ diễn dịch mà tôi biết
    rằng anh đã gởi một bức điện tín.

    - Đúng thế! Tôi nói lớn - Đúng ở cả hai mặt! Nhưng thú thật tôi
    không rõ bằng cách nào mà đạt đến kết luận như vậy. Bởi vì việc ấy,
    tôi quyết định một cách đột ngột và chẳng nói với một ai cả.

    - Thật là đơn giản thôi, anh ạ - Anh vừa lưu ý tôi, vừa cười nhẹ về
    nỗi ngạc nhiên của tôi - Đơn giản một cách thật vô lý đến nỗi một lời
    giải thích nào cũng có vẻ là thừa. Thế nhưng, ví dụ này có thể dùng
    để xác định ranh giới giữa quan sát và diễn dịch. Này nhé, tôi để ý
    thấy những vết bùn đỏ trên giày của anh. Mà ngay trước mắt nhà
    bưu điện phố Wigmore, lòng đường vừa mới sụp xuống, và đất bùn
    vung vãi tứ phía thành thử khó lòng vào được nhà bưu điện mà
    không phải đi qua đấy. Sau cùng, thứ đất ấy có màu đo đỏ đặc biệt
    mà theo chỗ tôi biết, thì không nơi nào có ngoài nơi ấy. Tất cả những
    điều này là do quan sát. Và phần còn lại là diễn dịch.

    - Thế thì làm sao anh có thể diễn dịch ra bức điện tín kia?

    - Kìa, tôi biết chắc chắn rằng anh đã không viết một lá thư nào cả,
    bởi lẽ suốt cả buổi sáng nay tôi vẫn ngồi đối diện với anh mà. Tôi lại
    còn trông thấy trên bàn của anh một lô tem và một chồng bưu thiếp
    dày cộp. Thế thì tại sao anh lại ra bưu điện, nếu không phải là để
    đánh điện tín? Anh cứ bỏ đi tất cả những động cơ khác, thì cái động
    cơ còn lại là động cơ đúng.

    - Lần này thì đúng thôi - Tôi đáp sau một hồi suy nghĩ - Sự việc
    như anh vừa nói, thật là vô cùng đơn giản... Tuy nhiên cũng mong
    anh chớ cho tôi là một kẻ khiếm nhã nếu tôi đem những lý thuyết

    của anh ra kiểm tra lại một cách nghiêm khắc nữa.

    - Ồ, không sao đâu - Anh đáp - Có thể tôi khỏi phải dùng thêm
    một liều cocaine thứ hai đấy. Tôi rất hân hoan mà chú tâm vào bài
    toán anh đặt ra cho tôi.

    - Tôi thường nghe anh bảo rằng thật khó lòng mà sử dụng một đồ
    vật nào đó hàng ngày mà ta lại không lưu lại dấu vết trên đó cá tính
    của ta, những dấu vết mà một người quan sát lành nghề thế nào
    cũng tìm thấy. Thì đây nhé, vừa mới đây thôi, tôi có được một cái
    đồng hồ bỏ túi. Xin anh vui lòng cho biết ý kiến về những thói quen
    hoặc cá tính của người chủ cũ của nó.

    Tôi đưa anh chiếc đồng hồ với đôi chút ác ý, vì tôi vốn biết trước
    rằng việc khảo sát chắc chắn sẽ không tài nào tiến hành được, và
    anh sẽ tịt ngòi ngay, hết lắm lời khoa trương nữa. Anh nhấc đồng hồ
    lên xem nặng nhẹ thế nào, quan sát kỹ mặt đồng hồ, mở vỏ ra và
    xem xét một cách cẩn thận cách vận hành của nó, trước bằng mắt,
    sau dùng kính lúp. Tôi không thể nào dằn được nụ cười mỉm trước vẻ
    mặt chưng hửng của anh khi anh đẩy chiếc đồng hồ trả lại tôi.




    - Có rất ít dấu vết - Anh ghi nhận - Nó vừa được chùi dầu, nên tôi
    thiếu những dấu vết có ý nghĩa nhất.

    - Đúng thế đấy - Tôi đáp - Nó đã được lau chùi trước khi giao cho
    tôi.

    Tự thâm tâm, tôi trách anh bạn tôi đã đưa ra một lời bào chữa khá

    là khập khiễng để khuất lấp thất bại của mình. Tôi tự hỏi ở một chiếc
    đồng hồ không lau chùi thì anh có thể rút ra những dấu vết gì?

    - Tuy không được mỹ mãn lắm nhưng việc điều tra của tôi không
    phải là hoàn toàn vô bổ - Anh vừa nói vừa nhìn lên trần nhà bằng cái
    nhìn mờ nhạt và xa xôi - nếu tôi không lầm thì chiếc đồng hồ này
    trước kia thuộc về người anh cả của anh mà anh ấy đã thừa hưởng
    lại của cha anh.

    - Có lẽ những mẫu tự đầu H.W khắc vào mặt sau vỏ đồng hồ đã
    gợi cho anh lối giải thích như thế phải không?

    - Hoàn toàn đúng như vậy. Mẫu tự W. chỉ họ gia đình anh. Đồng
    hồ này có từ gần 50 năm nay. Những mẫu tự cũng xưa như chính nó,
    như thế nó đã được chế tạo ra cho thế hệ trước nữa kia. Vật trang
    sức thường được giao cho con trai trưởng, người này thường mang
    tên người cha. Mà ông cụ, nếu tôi còn nhớ rõ, đã qua đời từ nhiều
    năm nay. Do đó tôi suy ra đây có lúc nó thuộc quyền sở hữu của anh
    cả anh.

    - Cho đến đây, thì đúng đấy - Tôi nói - Nhưng anh còn tìm ra điều
    gì khác nữa không?

    - Đó là một người bất cẩn và thiếu ngăn nắp. Thoạt đầu, anh ta
    gặp nhiều vận hội tốt đẹp, nhưng anh ta lại để phung phí mất đi. Anh
    ta sống trong cảnh nghèo nàn túng bấn xen kẽ những thời thịnh
    vượng ngắn ngủi và anh ấy chết đi sau khi đâm ra nghiện ngập. Đấy,
    tất cả những gì tôi đã có thể tìm ra được.

    Lòng tôi ngập tràn cay đắng. Tôi nhảy ra khỏi ghế bành và sải
    từng bước giận dữ trong gian phòng mặc dầu chân đang bị đau.

    - Thật là không xứng đáng với anh chút nào cả, anh Holmes ạ! Tôi hét lớn - Tôi thật không bao giờ nghĩ rằng anh lại có thể cam tâm
    làm một điều thấp hèn như vậy. Anh đã dò hỏi về cuộc đời người anh
    khốn khổ của tôi, rồi anh lại kiếm cách làm cho tôi tin rằng do một
    phương pháp ngông cuồng nào đó anh đã diễn dịch ra những chuyện
    như vậy. Đừng mong rằng tôi tin là anh đã tìm ra tất cả những điều
    này trong một chiếc đồng hồ cũ kỹ. Quả thật là một cung cách thiếu
    nhân ái, và để nói cho hết ý, nó chẳng khác nào cái trò quảng cáo

    bịp bợm đâu.

    - Ông bác sỹ thân mến của tôi ơi, tôi xin anh vui lòng thứ lỗi vậy Anh nói từ tốn - Lúc xét sự việc như một vấn đề trừu tượng, tôi đã
    quên khuấy đi mất là nó đụng chạm trực tiếp đến anh và có thể làm
    cho anh đau khổ như thế. Tôi xin cam đoan với anh, Watson ạ, rằng
    trước khi xem xét cái đồng hồ kia, tôi thật tình chẳng biết một tí gì về
    người anh của anh. Tôi cũng không biết là anh có một người anh nữa
    kia mà.

    - Trời ơi, thế thì làm sao anh có thể phát hiện được những điều
    đó? Tất cả đều đúng sự thật, cho đến cả chi tiết nhỏ nhặt nhất.

    - Thì cũng là nhờ chút ít may mắn thôi! Tôi chỉ có thể nói ra những
    gì theo tôi có khả năng là đúng nhất mà thôi. Thật tôi cũng không
    ngờ là nó lại đúng đến như vậy.

    - Đấy không phải là trò đoán mò chứ?

    - Không, không đâu; tôi không bao giờ đoán mò cả. Đó là một thói
    quen đáng ghét, nó giết chết khả năng lý luận. Điều anh cho là lạ
    lùng chỉ lạ lùng vì anh không theo dõi lối lập luận của tôi và anh
    không chịu chú ý đến những sự kiện nhỏ nhặt, từ đó suy diễn ra
    những kết luận to lớn. Chẳng hạn, lúc bắt đầu câu chuyện, tôi có nói
    là người anh của anh có tính cẩu thả. Thì anh hãy quan sát thật kỹ
    phần dưới vỏ đồng hồ rồi anh sẽ thấy nó chẳng những nổi u ở hai
    chỗ mà lại còn đầy những vết trầy xước, do va chạm với những vật
    khác. Đó là xâu chìa khóa hoặc những đồng tiền lẻ mà anh ấy cho
    vào trong cùng một túi. Thế thì chắc chắn không phải là một trò quỷ
    thuật nếu ta suy ra tính cẩu thả của một người từng xem thường một
    chiếc đồng hồ trị giá 50 guinea 5) như vậy. Mà cũng chẳng phải nhờ
    một lối lập luận thiên tài nào đó mà tôi nói được là một di sản gồm
    một đồ vật giá trị đến như vậy chắc phải là quan trọng lắm.

    Tôi gật đầu, tỏ vẻ đã hiểu ý anh.

    - Mặt khác, những người làm nghề cầm đồ ở Anh thường có thói
    quen dùng đầu mũi kim khắc vào mặt sau đồng hồ số biên nhận cấp
    khi đồ vật được đem cầm thế. Như thế thì tiện lợi hơn nhãn dán có
    thể thất lạc hoặc dán nhầm trên một vật khác. Thế mà, có không

    dưới bốn con số như vậy được khắc vào mặt trong vỏ đồng hồ. Từ
    đó, điều suy diễn thứ nhất: Anh của anh thường lâm vào cảnh túng
    thiếu. Suy diễn thứ hai: Anh ấy cũng đã từng sống qua những thời
    sung túc, nếu không phải thế thì đâu anh ấy có thể chuộc lại chiếc
    đồng hồ kia được? Sau cùng, đề nghị anh nhìn kỹ vào nắm bên trong
    có lỗ nhỏ nơi khóa núm vặn xuyên qua. Một người điều độ đã không
    thể làm trầy trụa nó như vậy. Ngược lại, đồng hồ của những người
    nghiện rượu thường mang dấu vết bàn tay run rẩy khi lên dây cót
    đồng hồ. Như vậy thì còn gì là bí ẩn trong lối giải thích của tôi đâu?

    - Tất cả đều rõ như ban ngày - Tôi đáp - Tôi rất ân hận đã bất
    công đối với anh. Lẽ ra, tôi phải biểu lộ lòng tin to lớn hơn nữa vào
    những năng lực của anh mới phải. Cho tôi xin phép được hỏi là hiện
    nay anh có phải giải quyết vụ nào không?

    - Không. Bởi thế nên tôi mới phải dùng đến cocaine. Tôi không tài
    nào sống mà không bắt óc tôi phải làm việc. Ở đời còn có hoạt động
    nào khác đáng giá hơn đâu? Này, anh hãy đến gần cửa sổ đây này.
    Có bao giờ mà thế giới lại ảm đạm, tầm thường và buồn chán như
    thế này đâu? Anh cứ nhìn vào đám sương mù vàng bệch đang giải
    rộng dọc theo con phố rồi vỡ vụn một cách thật là vô ích vào những
    cái nhà buồn tẻ kia đi! Còn có gì chán ngán và tầm thường hơn
    không? Này, ông bác sỹ của tôi ơi, anh hãy nói cho tôi biết đi, những
    năng lực của ta liệu có ích gì nếu ta không mang ra sử dụng? Tội
    phạm thì tầm thường, cuộc sống cũng tầm thường, chỉ có những
    phẩm chất tầm thường mới có cơ thao luyện ở cõi đời này thôi.

    Tôi định trả lời cho những câu nói tràng giang này thì có tiếng gõ
    cửa. Bà chủ nhà trọ bước vào mang theo một tấm thiếp đặt trên
    chiếc mâm đồng.

    - Có một cô mong được gặp ông - Bà nói với bạn tôi.

    - Cô Mary Morstan - Anh đọc. - Hừm! Tôi chẳng còn nhớ gì về cái
    tên này cả. Phiền bà mời người ấy vào hộ tôi, bà Hudson nhé. Ấy,
    bác sỹ đừng đi! Tôi thích bác sỹ ngồi lại dự cuộc hội kiến này.



    Chương 2


    TRÌNH BÀY NỘI VỤ


    The Statement of the Case



    Cô Morstan bước vào phòng với dáng đi quả quyết. Đó là một
    thiếu nữ tóc hoe vàng, nhỏ nhắn và mảnh mai, y phục đơn giản và
    tầm thường, tuy rất thanh nhã khiến ta liên tưởng đến những điều
    kiện sinh hoạt hạn chế của cô. Chiếc áo, không đồ trang sức cũng
    chẳng nữ trang, màu gạch non ngả sang màu xám. Cổ quấn một dải
    khăn choàng đầu nhỏ, cũng một màu xám xịt ấy, may là có điểm
    thêm một chiếc lông vũ màu trắng ở một bên. Vẻ đẹp của cô không ở
    trong đường nét thanh tú, không ở trong nước da trong sáng, mà
    phảng phất trong nét tinh anh linh động, cởi mở và dịu dàng, trong
    đôi mắt xanh lớn, đa cảm và thăm thẳm. Kinh nghiệm của tôi về phụ
    nữ, vốn bao trùm nhiều nước ở ba lục địa, chưa bao giờ cho tôi được
    chiêm ngưỡng một khuôn mặt nào biểu lộ một tâm hồn tế nhị một
    cách tuyệt vời như thế.

    Shelock Holmes đẩy ghế tới mời cô ngồi. Tôi nhận thấy ngay
    miệng cô run run và đôi tay cô co quắp lại, toàn là những dấu hiệu
    của một sự xúc động nội tâm mãnh liệt.

    - Tôi đến gặp ông, thưa ông Holmes! - Nàng nói - bởi vì ông đã
    giúp bà Cecil Forrester vốn là người mà tôi phục vụ, gỡ được một vụ
    rắc rối trong gia đình bà ấy. Tài năng và nhiệt tình của ông đã làm bà
    ấy cảm kích vô cùng.

    - Bà Cecil Forrester à? - Anh nhắc lại, ra chiều nghĩ ngợi - À vâng,
    tôi nhớ đã giúp bà ấy một việc nho nhỏ. Tuy nhiên, nếu tôi còn nhớ
    rõ, thì đó chỉ là một vụ rất đơn giản thôi.

    - Vâng, nhưng đó không phải là ý kiến của bà ta. Dầu sao chăng
    nữa, chắc là ông sẽ không nghĩ như vậy về câu chuyện của tôi đâu.
    Tôi thật khó lòng mà tưởng tượng ra một câu chuyện lạ lùng hơn, và
    hoàn toàn không thể giải thích gì được.


    Holmes xoa tay vào nhau. Đôi mắt sáng ngời lên. Trong chiếc ghế
    bành, anh chồm tới trước với cái dáng nhìn nghiêng của loài chim săn
    mồi, và nét mặt đột nhiên biểu lộ một sự tập trung tư tưởng đến là lạ
    lùng.




    - Mời cô trình bày trường hợp của cô đi - Anh nói.


    Anh lấy giọng của một nhà doanh nghiệp. Địa vị của tôi lúc bấy giờ
    đâm ra khó xử, nên tôi đứng dậy cáo từ:

    - Mong quý vị miễn thứ cho tôi.

    Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi người phụ nữ khoát bàn tay đeo găng
    giữ tôi lại.

    - Nếu bạn
     
    Gửi ý kiến