Chào mừng quý vị đến với CLB Giáo viên Hải Dương.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11
HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Giáo án học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thư Mộc Miên
Ngày gửi: 15h:59' 03-09-2024
Dung lượng: 81.6 KB
Số lượt tải: 27
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thư Mộc Miên
Ngày gửi: 15h:59' 03-09-2024
Dung lượng: 81.6 KB
Số lượt tải: 27
Số lượt thích:
0 người
Bài 4
VĂN BẢN 1
I. Trải nghiệm cùng văn bản
2. Tác giả, tác phẩm
Tác giả : Tô Hoài
Thể loại : Truyện đồng thoại
Ngôi kể : thứ nhất , xưng “ tôi” ( Lời kể của Dế Mèn)
II. Suy ngẫm và phản hồi
1. Thời điểm kể chuyện
Thời điểm Dế Mèn kể lại cho chúng ta nghe bài học đường đời đầu tiên là sau cái chết của Dế Choắt. Thể hiện qua chi tiết:
hung hăng, hống hách láo chỉ tổ trả nợ cho những ngu dại
tôi ân hận quá, ân hận mãi
thế mới biết nếu đã trót không suy tính, lỡ xảy ra những việc dại dột có hối cũng không làm lại được
câu chuyện ân hận đầu tiên mà tôi nớ suốt đời
hồi ấy
ngẫm ra...
hồi ấy, tôi có tính tự đắc...
2. Lời người kể chuyện, lời nhân vật và người kể chuyện
Yêu cầu
Lời kể của Dế Mèn
Lời đối thoại của Dế Mèn
- Tôi tợn lắm. Dám cà khịa với tất cả mọi bà con
trong xóm.
- Được, chú mình cứ nói thẳng thừng ra nào.
- Ngẫm ra thì tôi chỉ nói lấy sướng miệng thôi. - Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ, chú
Còn Dế Choắt than thở thế nào, tôi không để tai. mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được.
Hồi ấy, tôi có tính tự đắc, cứ miệng mình nói tai
mình nghe chứ không biết ai nghe, thậm chí cũng - Chú mình có muốn cùng tớ đùa vui không?
chẳng để ý có ai nghe mình không.
Câu văn
So sánh
Giống nhau
Đều là lời của Dế Mèn
Khác nhau
Lời Dế Mèn kể lại câu chuyện->Lời người kể
Lời nói trực tiếp của nhân vật (đối thoại, độc
chuyện (ngôi thứ 1)
thoại) ->Lời nhân vật
3. Nhân vật Dế Mèn
Ngoại hình
Đôi càng: mẫm bóng
Vuốt: cứng, nhọn hoắt
Cánh dài,
Răng đen nhánh
Râu dài uốn cong, hùng dũng....
Hành động
Đạp phanh phách
Nhai ngoàm ngoạm,
Trịnh trọng đưa hai chân lên vuốt râu.
Đi đứng oai vệ
Cà khịa, to tiếng với tất cả mọi người
Quát chị Cào Cào
Ghẹo anh Gọng Vó
Lời nói
Cách xưng hô: Xưng hô là "ta", gọi Dế Mèn là "chú mày"
Mắng chửi DC "có lớn mà chẳng có khôn"
Lời nhận xét về DC: cẩu thả, tuềnh toàng, hôi như cú mèo
Lời từ chối phũ phàng "đào tổ nông thì cho chết"
Tâm trạng
Hãnh diện, tự mãn "tôi lấy là hãnh diện với bà con về cặp râu ấy lắm", "tôi tợn lắm, tôi cho tôi là giỏi"
Sợ hãi "tôi cũng khiếp, nằm im thít, hoảng hốt"
Ân hận "anh mà chết là tại tôi ngông cuồng"
Hối lỗi "tôi biết làm thế nào bây giờ"
Ở đây có sự biến đổi tâm lý : từ thái độ kiêu ngạo, hống hách sang ăn năn, hối hận-> Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sinh động, hợp lí.
⇒ Tính cách: Dế Mèn là một chàng dế thanh niên trẻ trung, yêu đời, tự tin nhưng cũng kiêu căng, tự phụ, hống hách, coi khinh và cậy sức bắt
nạt kẻ yếu.
4. Bài học đường đời đầu tiên
Bài học đường đời đầu tiên mà Dế Mèn rút ra sau cái chết của Dế Choắt đó là thói ngông cuồng của mình, trêu đùa, khinh thường người
khác, thoả mãn niềm vui cho mình đã gây ra hậu quả khôn lường, phải ân hận suốt đời.
Việc tác giả sử dụng ngôi kể thứ nhất, cho Dế Mèn tự kể lại câu chuyện của mình đã khiến câu chuyện trở nên chân thực, khách quan, nhân
vật có thể bộc lộ rõ nhất tâm trạng, cảm xúc của mình khi trải qua.
⇒ Có thể xem cái chết của Dế Choắt là một bước ngoặt với Dế Mèn vì qua đó chú đã nhận thức được những sai lầm của bản thân đó là tính
kiêu căng, tự phụ. Với mọi người, Dế Mèn đã nhận thức được sự ích kỉ, coi thường người khác.
5. Bài học cho bản thân
Qua truyện của Dế Mèn ta thấy Dế Mèn mới lớn, sống trong một thế giới nhỏ bé, quanh quẩn gồm những người hiền lành nên đã lầm tưởng
sự ngông cuồng là tài ba của mình, có thái độ kiêu căng, tự phụ, xốc nổi.
Trước những lỗi lầm, chúng ta phải biết nhận ra và sửa chữa những sai lầm mà mình mắc phải, phải tự trọng, biết nghiêm khắc trước những
thiếu sót của mình.
6. Đặc điểm truyện đồng thoại
Nhân vật là loài vật đã được nhân hóa : Dế mèn, Dến Choắt, Chị Cốc, anh Gọng Vó, chị Cào Cào
Thể hiện đặc điểm sinh hoạt của loài vật như ngoại hình của Dế Mèn được miêu tả bằng những chi tiết đặc trưng cho loài dế (râu, đôi càng,
đôi cánh, đầu, cái răng đen), tập tính sinh sống của loài dế là đào hang để ở, hành động của Dế Mèn như đạp phanh phách lên ngọn cỏ, đào
hang…
Qua những đặc điểm đó cũng thể hiện đặc điểm của con người được thể hiện ở tính cách của Dế Mèn như tự tin, trẻ trung, yêu đời nhưng
cũng vô cùng xốc nổi, kiêu căng, coi thường người khác…
III. Tổng kết
1. Nội dung
Vẻ đẹp cường tráng của Dế Mèn. Dế Mèn kiêu căng, xốc nổi gây ra cái chết của Dế Choắt.
Bài học về lối sống thân ái, chan hòa; yêu thương giúp đỡ bạn bè; cách ứng xử lễ độ, khiêm nhường; sự tự chủ; ăn năn hối lỗi trước cử chỉ
sai lầm...
2. Nghệ thuật
Truyện đồng thoại với nội dung hấp dẫn, sinh động.
Kể chuyện kết hợp với miêu tả.
Xây dựng hình tượng nhân vật Dế Mèn gần gũi với trẻ thơ, miêu tả loài vật chính xác, sinh động
VĂN BẢN 2:
I. Trải nghiệm cùng văn bản
1. Đọc văn bản “ Giọt sương đêm”
2. Tác giả, tác phẩm
Tác giả : Trần Đức Tiến
Thể loại : Truyện đồng thoại
Ngôi kể : thứ ba
II. Suy ngẫm và phản hồi
1. Nhân vật và ngôi kể
Nhân vật: Tắc Kè, Thằn Lằn, Ốc Sên, Cụ giáo Cóc, Bọ Dừa,
Người kể chuyện: người kể chuyện ẩn mình
Ngôi kể: Ngôi thứ ba
⇒ Trong truyện đồng thoại, người kể chuyện có thể là nhân vật, có thể là người kể chuyện giấu mình.
Ngôi kể có thể là ngôi thứ nhất (xưng tôi), cũng có thể là ngôi thứ ba (giấu mình)
2. Cốt truyện
Sắp xếp các sự việc: e – b – d – a - c
Sự việc quan trọng nhất: “Sáng hôm sau, sau khi kể cho Thằn Lằn nghe về một đêm mất ngủ của mình, Bọ
Dừa khoác ba lô hành lí lên vai, chào tạm biệt Thằn Lằn để về quê “ là quan trọng nhất. Vì sự việc này có ý
nghĩa sâu sắc, sau một đêm mất ngủ, Bọ Dừa nhận ra chính mình, quay trở về quê hương sau bao năm xa
cách, quên lãng.
3. Biện pháp nghệ thuật
Nghệ thuật: Điệp từ, so sánh, đặc biệt là nhân hóa
Đặc điểm truyện đồng thoại: các nhân vật được nhân hóa nhưng vừa phản ánh các đặc điểm sinh hoạt của
loài vật lại gắn liền với nhận thức, tâm lí, đặc điểm lứa tuổi thiếu nhi
4. Nhân vật Bọ Dừa
Ngoại hình: Béo, râu ngắn
Sở thích: Thích ăn lá trúc
Nghề nghiệp: nghề buôn
Hoàn cảnh: xa quê đi buôn bán đã lâu chưa về, trên đường đi ghé vào xóm Bờ Dậu tìm chỗ nghỉ ngơi; ngủ
ở ngoài trời
Lí do khiến Bọ Dừa về quê sau một đêm mất ngủ: trong đêm thănh vắng, ông lắng rõ được những âm thanh
quen thuộc. Đặc biệt là khi giọt sương rơi xuống cổ khiến ông sực nhớ quê nhà. Những âm thanh, hình ảnh
đó đã gợi nhắc ông về hình ảnh thân thuộc của quê hương mà bao lâu nay ông bỏ quên.
5. Thông điệp của văn bản
Trải nghiệm của Bọ Dừa trong đêm ấy là ông đã ngủ ngoài trời và ông đã có cơ hội được ngắm nhìn trời
mây, lắng nghe âm thanh của lá cây, côn trùng, tiếng gió, tiếng sương rơi.
Qua đó, tác giả muốn gửi đến chúng ta thông điệp: đôi khi vì cuộc sống bận rộn khiến chúng ta quên đi
những điều thân thuộc, gần gũi với chính mình. Vì vậy hãy biết trân trọng những thứ mình đang có: quê
hương, gia đình, người thân, bạn bè...
6. Kết thúc truyện
Kết thúc truyện: Bọ Dừa đi về quê
Góp phần thể hiện thông điệp của văn bản: Hãy trân trọng quê hương, gia đình đừng mãi bôn ba, phiêu bạt
bên ngoài. Nếu chọn cách kết truyện là cám ơn mọi người trong xóm rồi tiếp tục hành trình của mình không
thể hiện được thông điệp-> không có giá trị giáo dục.
Học sinh sáng tạo kết truyện theo tưởng tượng của bản thân. Gợi ý:
Sau khi nghe câu chuyện của Bọ Rùa, Thằn Lằn khuyên:
- Thế thì bác nên về thăm quê đi, xem các cụ có khỏe không. Còn bà con xóm giềng nữa. Lỡ mình đi lâu về họ
quên cả mình thì chết.
- Tôi cũng dự tính như vậy. Nhưng ngặt nỗi chuyến hàng này của tôi nặng vốn quá, mà bán chưa được bao
nhiêu. Có lẽ bán hết chỗ này tôi mới về quê được bác ạ.
Nói xong Bọ Dừa chào mọi người rồi tiếp tục hành trình của mình.
III. Tổng kết
1. Nội dung
Văn bản kể lại một đêm mất ngủ của Bọ Dừa tại xóm Bờ Giậu. Những âm thanh, hình ảnh quen thuộc đó
đã gợi nhắc ông về hình ảnh quê hương mà bao lâu nay ông bỏ quên.
Hãy biết trân trọng những giá trị của cuộc sống mà con người vốn dễ lãng quên.
2. Nghệ thuật
Nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, cách kể chuyện hấp dẫn và sinh động
VĂN BẢN 3:
I. Tìm hiểu về nhân vật
Câu nói của nhân vật bố có thể hiểu: món quà chính là tình cảm, tấm lòng của người tặng đã gửi gắm vào
đó nên món quà dù lớn hay nhỏ đều đẹp. Cách chúng ta nhận, trân trọng món quà của người tặng cũng thể
hiện nét đẹp của chính mình.
Qua văn bản, em cảm nhận được tình cảm cha con gắn bó tha thiết, người cha đã thể hiện tình yêu thương
với đứa con thông qua những bài học sâu sắc từ cuộc sống, biết yêu thương, lắng nghe và thấu hiểu từ
thiên nhiên, biết trân trọng mọi thứ xung quanh mình.
II. Thông điệp của tác phẩm
Câu văn “những bông hoa chính là người đưa đường” cho ta hiểu “thế giới” chính là những điều thân
thuộc, gần gũi với chính mình. Khi nhắm mắt lại và cảm nhận bằng mọi thứ bằng mọi giác quan, bạn sẽ
thấy con đường đi của riêng mình. Qua đó, chúng ta thấy tác giả đã thể hiện thái độ trân trọng, yêu thương
thế giới tự nhiên.
Đồng tình với thái độ của người bố khi nhận món quà của Tý vì Tý luôn dành những trái ổi ngon nhất để
dành tặng nên người bố dù không thích ăn nhưng vì Tý mà vẫn ăn. Qua đấy thể hiện thái độ trân trọng,
biết ơn của người bố với mòn quà mà mình được nhận.
⇒ Từ đó em rút ra được bài học cho mình trong cách ứng xử: cần trân trọng, biết ơn tình cảm, tấm lòng
của người khác dành cho mình, Dù thích hay không thích món quà, chúng ta cũng không nên từ chối hay
khước từ người tặng bởi đó là tình cảm, tâm huyết mà họ đã dành cho chúng ta.
III. Cách cảm nhận về thế giới tự nhiên
Cảm nhận của nhân vật tôi trong câu chuyện đã dần dần thay đổi: ban đầu, nhân vật không thể đoán được
tên loài hoa, dần dần đã thuộc tên và rồi khi nhắm mắt lại, ngửi mùi hoa cũng có thể đoán đúng tên. Như
vậy, nhân vật đã cảm nhận thế giới tự nhiên bằng nhiều giác quan và khi càng hiểu, nhân vật càng trân
trọng và thêm yêu thiên nhiên quanh mình.
Cách cảm nhận ấy đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta, đó là cách cảm nhận sâu sắc, không hời hợt.
Khi ta cảm nhận bằng cả tâm hồn và tình yêu thương ta sẽ phát hiện được những vẻ đẹp, những giá trị từ
những điều bình dị nhất
THỰC HÀNH TIẾNG VIẾT
Bài tập 1:
Câu a chủ ngữ là “Vuốt” không thể hiện rõ được ở vị trí nào mà chỉ nêu chung chung.
Còn câu b “Những cái vuốt ở chân, ở kheo” cho ta thấy vị trí rõ ràng hơn.
⇒ Như vậy việc dùng cụm danh từ là chủ ngữ của câu giúp chúng ta nắm bắt được thông tin chi tiết, rõ
ràng hơn.
Bài tập 2:
So với cách dùng vị ngữ “bò lên” thì cách diễn đạt “mon men bò lên” (cụm đồng từ) đã bổ sung thêm những
thành phần miêu tả cách thức thực hiện hành động, giúp ta hình dung rõ hơn thái độ của Dế Mèn đó là rón
rén, sợ sệt, từ từ bò lên sau khi biết chị Cốc đã bỏ đi.
So với cách dùng vị ngữ “khóc” thì cụm tinh từ “khóc thảm thiết” (cụm động từ) diễn tả thêm cách thức
thực hiện hành động, thể hiện rõ mức độ khóc lóc vô cùng thương tâm, đau xót
So với cách diễn đạt “nóng”, cụm từ “nóng hầm hập” (cụm tính từ) bổ sung thêm thông tin về cái nóng, làm
cho thông tin miêu tả trở nên chi tiết, giúp ta hình dung mức độ nóng đạt tới đỉnh điểm, vô cùng oi bức, khó
chịu.
⇒ Việc dùng cụm động từ, cụm tính từ làm thành phần vị ngữ của câu là bổ sung thông tin chi tiết, cụ thể
cho việc miêu tả hành động, tính chất của chủ thể được nói đến trong câu.
Bài tập 3. Văn bản Bài học đường đời đầu tiên (Tô Hoài):
Tôi ra đứng cửa hang như mọi khi, xem hoàng hôn xuống.
⇒ Vị ngữ trong câu là chuỗi gồm hai cụm động từ.
Thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên.
⇒ Vị ngữ trong câu này là chuỗi gồm hơn hai cụm động từ.
Giọt sương đêm (Trần Đức Tiến)
Bọ Dừa rùng mình, tỉnh hẳn.
⇒ Vị ngữ trong câu là chuỗi gồm hai cụm động từ.
Thằn Lằn vừa chui ra khỏi bình gốm vỡ, chưa kịp vươn vai tập mấy động tác thể dục, đã thấy ông khách
quần áo chỉnh tề đứng chờ.
⇒ Vị ngữ trong câu này là chuỗi gồm hơn hai cụm động từ.
Bài tập 4. Xác định chủ ngữ và vị ngữ
Khách/ giật mình
Lá cây/ xào xạc.
Trời /rét.
Mở rộng thành phần câu:
Vị khách đó/ giật mình.
Những chiếc lá cây bàng/ rơi xào xạc
Trời/ rét buốt.
⇒ Những câu mở rộng thành phần câu giúp thể hiện chi tiết, rõ ràng hơn so với các câu chưa mở rộng.
Bài tập 5
a. Các từ láy: phanh phách, hủn hoẳn, phành phạch, giòn giã, rung rinh.
⇒ Các từ láy góp phần diễn tả rõ ràng, chi tiết hơn vẻ đẹp cường tráng, khoẻ mạnh của chú Dế Mèn.
b. Những câu văn sử dụng phép so sánh: Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua.
⇒ Miêu tả những chiếc vuốt của Dế Mèn rất sắc nhọn, diễn tả sức mạnh của Dế Mèn.
Bài tập 6:
a. Nghĩa của từ tợn:
Bạo đến mức liều lĩnh, không biết sợ hãi gì , lộ rõ vẻ thách thức.
Chỉ sự khác thường ở một mức độ cao (rét tợn)
b. Từ “tợn” trong đoạn văn trên được sử dụng với nghĩa hiểu: Bạo đến mức liều lĩnh, không biết sợ hãi gì ,
lộ rõ vẻ thách thức.
Cơ sở để xác định là dựa vào nội dung những câu văn sau đó: Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm.
Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn, không ai đáp lại.
VĂN BẢN 4:
I. Đặc điểm truyện đồng thoại
Các đặc điểm của truyện đồng thoại:
Nhân vật là các loài vật, đồ vật đã được nhân hoá: trong văn bản này các nhân vật là cô Gió, hoa tầm xuân,
chị Hũ, bạn ngô, bác lau sậy, chú Ong vàng có lời nói, cử chỉ như con người.
Thể hiện đặc điểm sinh hoạt của sự vật như các chi tiết: cô Gió vừa vội vã bay đi, cô dừng lại một vài giây
rồi từ từ thổi hơi mát vào giường bà… Qua những đặc điểm đó cũng thể hiện đặc điểm tính cách của con
người đó là sự quan tâm, chăm sóc dành cho mọi người.
II. Thông điệp
Dù Gió không có dáng hình, chẳng ai nhìn thấy nhưng mọi người vẫn nhận ra cô vì cô luôn giúp đỡ người
khác, mang lại niềm vui và tiếng cười cho mọi người. Chúng ta cũng như vậy, những việc làm tốt có thể
không ai nhìn thấy nhưng chỉ cần chúng ta luôn biết quan tâm, giúp đỡ, mang lại niềm vui và tiếng cười cho
người khác thì mọi người sẽ yêu thương và quý trọng bạn
BÀI 6
1. Tìm hiểu tri thức về kiểu văn bản
Đặc điểm kiểu bài
Kể lại trải nghiệm của bản thân
Bài học đường đời đầu tiên
Ngôi kể
Thứ nhất
Các sự kiện được sắp xếp theo trình tự
Thời gian
Phương thức biểu đạt
Kể kết hợp với tả, biểu cảm
Bài học rút ra
Không nên ngông cuồng, hống hách
II. Phân tích kiểu văn bản
Câu chuyện sử dụng ngôi kể thứ nhất
Những sự việc chính:
Làng tôi có con sông êm đầu chảy qua làng, chúng tôi thường rủ nhau tắm sông.
Buổi trưa hôm ấy, sau khi đá bóng, đám trẻ rủ nhau ra sông tắm và nảy ra ý định tổ chức cuộc thi bơi giữa
đám trẻ trong và ngoài làng.
Tôi nhận lời thách đấu, đã bơi nhanh và khi nhận ra đã bơi khá xa bờ.
Bỗng bắp chân bị chuột rút và đau đớn, tôi sợ hãi tột độ.
Một người làng đi câu cá gần đấy đã nghe tiếng kêu, nhanh chóng bơi ra và đưa tôi vào bờ.
Tôi rút ra bài học chỉ nên bơi lội ở nơi an toàn, có sự giám sát của người lớn.
Một số chi tiết có sử dụng yếu tố miêu tả:
Vào mùa hè, nước sông thường cạn nên chúng tôi tung tăng bơi lội, trêu đùa rộn rã cả một góc sông.
Trận đấu diễn ra vô cùng căng thẳng, gay cấn, quyết liệt.
⇒ Việc sử dụng yếu tố miêu tả giúp cho bài văn thêm sinh động, hấp dẫn, cuốn hút người đọc.
Nhân vật “tôi” đã nhận ra sau trải nghiệm ấy là bài học sâu sắc, cần nghe lời người lớn và chỉ nên bơi lội ở
nơi an toàn, có sự giám sát của người lớn.
Em rút ra được một số kinh nghiệm khi kể lại một trải nghiệm của bản thân:
Dùng ngôi thứ nhất để kể
Kết hợp kể và miêu tả
Trình bày các sự việc theo trình tự hợp lí
Nêu ý nghĩa của trải nghiệm đối với bản thân.
Bài văn phải đảm bảo bố cục 3 phần
BÀI 7
. Bảng tóm tắt nội dung chính của ba văn bản
Văn bản
Nội dung chính
Bài học đường đời đầu tiên
Văn bản miêu tả Dế Mèn có vẻ đẹp cường tráng nhưng tính cách kiêu căng xốc
nổi đã gây ra cái chết của Dế Choắt. Dế Mèn hối hận và rút ra bài học cho
mình.
Giọt sương đêm
Văn bản kể về Bọ Dừa đến xóm Bờ Giậu để tìm một chỗ trọ. Bọ Dừa đã
quyết định ngủ tạm ngoài vòm trúc và trong đêm ấy ông đã cảm nhận được
những âm thanh, hình ảnh quen thuộc và đặc biệt là giọt sương đêm rơi khiến
ông tỉnh giấc, sực nhớ quê nhà. Sáng hôm sau ông đã quyết định trở về quê.
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ
Truyển kể về nhân vật tôi đã được người cha hướng dẫn những cách cảm
nhận về cuộc sống, nhắm mắt sờ từng bông hoa rồi tập đoán, ngửi mùi hương
và đoán tên hoa, những món quà… Qua đó thấy được tình yêu thương người
cha dành cho đứa con.
II. Cách cảm nhận cuộc sống của các nhân vật trong ba văn bản trên có gì giống và khác nhau
Giống nhau: các nhân vật đều có những trải nghiệm từ cuộc sống và qua các trải nghiệm đó, mỗi nhân vật
đều rút ra được cho bản thân những bài học quý giá.
Khác nhau:
Bài học đường đời đầu tiên: nhân vật đã trải qua vấp ngã, sai lầm khiến bản thân phải ân hận. Từ đó rút
ra được bài học cho chính mình.
Giọt sương đêm: nhân vật đã trải qua một đêm thức trắng và sực tỉnh, nhận ra điều mình lãng quên từ lâu.
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ: nhân vật đã có những cảm nhận sâu sắc về cuộc sống thông qua những trải
nghiệm từ thiên nhiên, con người xung quanh mình.
III. Văn bản Bài học đường đời đầu tiên và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ thuộc thể loại nào?
Thuộc thể loại truyện đồng thoại. Vì hai văn bản đều có những đặc điểm đặc trưng của truyện đồng thoại:
Nhân vật là các loài vật được nhân hoá.
Nhân vật mang những đặc điểm sinh hoạt của loài vật vừa thể hiện đặc điểm của con người.
IV. Sơ đồ
V. Bài học kinh nghiệm về cách kể lại một trải nghiệm của bản thân
Xác định đề tài và lựa chọn trải nghiệm của bản thân kỉ niệm sâu sắc, ý nghĩa.
Nhớ lại những sự việc và sắp xếp các ý theo trình tự câu chuyện hợp lí.
VI. Ý nghĩa trải nghiệm đối với cuộc sống
Qua những bài học này, ta hiểu rằng trong cuộc sống những trải nghiệm sẽ giúp ta có thêm kinh nghiệm
sống, cảm nhận thiên nhiên, con người và cuộc sống trọn vẹn hơn. Từ đó, em hiểu được những giá trị trong
cuộc sống và hoàn thiện nhân cách, tâm hồn mình hơn.
VĂN BẢN 1
I. Trải nghiệm cùng văn bản
2. Tác giả, tác phẩm
Tác giả : Tô Hoài
Thể loại : Truyện đồng thoại
Ngôi kể : thứ nhất , xưng “ tôi” ( Lời kể của Dế Mèn)
II. Suy ngẫm và phản hồi
1. Thời điểm kể chuyện
Thời điểm Dế Mèn kể lại cho chúng ta nghe bài học đường đời đầu tiên là sau cái chết của Dế Choắt. Thể hiện qua chi tiết:
hung hăng, hống hách láo chỉ tổ trả nợ cho những ngu dại
tôi ân hận quá, ân hận mãi
thế mới biết nếu đã trót không suy tính, lỡ xảy ra những việc dại dột có hối cũng không làm lại được
câu chuyện ân hận đầu tiên mà tôi nớ suốt đời
hồi ấy
ngẫm ra...
hồi ấy, tôi có tính tự đắc...
2. Lời người kể chuyện, lời nhân vật và người kể chuyện
Yêu cầu
Lời kể của Dế Mèn
Lời đối thoại của Dế Mèn
- Tôi tợn lắm. Dám cà khịa với tất cả mọi bà con
trong xóm.
- Được, chú mình cứ nói thẳng thừng ra nào.
- Ngẫm ra thì tôi chỉ nói lấy sướng miệng thôi. - Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ, chú
Còn Dế Choắt than thở thế nào, tôi không để tai. mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được.
Hồi ấy, tôi có tính tự đắc, cứ miệng mình nói tai
mình nghe chứ không biết ai nghe, thậm chí cũng - Chú mình có muốn cùng tớ đùa vui không?
chẳng để ý có ai nghe mình không.
Câu văn
So sánh
Giống nhau
Đều là lời của Dế Mèn
Khác nhau
Lời Dế Mèn kể lại câu chuyện->Lời người kể
Lời nói trực tiếp của nhân vật (đối thoại, độc
chuyện (ngôi thứ 1)
thoại) ->Lời nhân vật
3. Nhân vật Dế Mèn
Ngoại hình
Đôi càng: mẫm bóng
Vuốt: cứng, nhọn hoắt
Cánh dài,
Răng đen nhánh
Râu dài uốn cong, hùng dũng....
Hành động
Đạp phanh phách
Nhai ngoàm ngoạm,
Trịnh trọng đưa hai chân lên vuốt râu.
Đi đứng oai vệ
Cà khịa, to tiếng với tất cả mọi người
Quát chị Cào Cào
Ghẹo anh Gọng Vó
Lời nói
Cách xưng hô: Xưng hô là "ta", gọi Dế Mèn là "chú mày"
Mắng chửi DC "có lớn mà chẳng có khôn"
Lời nhận xét về DC: cẩu thả, tuềnh toàng, hôi như cú mèo
Lời từ chối phũ phàng "đào tổ nông thì cho chết"
Tâm trạng
Hãnh diện, tự mãn "tôi lấy là hãnh diện với bà con về cặp râu ấy lắm", "tôi tợn lắm, tôi cho tôi là giỏi"
Sợ hãi "tôi cũng khiếp, nằm im thít, hoảng hốt"
Ân hận "anh mà chết là tại tôi ngông cuồng"
Hối lỗi "tôi biết làm thế nào bây giờ"
Ở đây có sự biến đổi tâm lý : từ thái độ kiêu ngạo, hống hách sang ăn năn, hối hận-> Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sinh động, hợp lí.
⇒ Tính cách: Dế Mèn là một chàng dế thanh niên trẻ trung, yêu đời, tự tin nhưng cũng kiêu căng, tự phụ, hống hách, coi khinh và cậy sức bắt
nạt kẻ yếu.
4. Bài học đường đời đầu tiên
Bài học đường đời đầu tiên mà Dế Mèn rút ra sau cái chết của Dế Choắt đó là thói ngông cuồng của mình, trêu đùa, khinh thường người
khác, thoả mãn niềm vui cho mình đã gây ra hậu quả khôn lường, phải ân hận suốt đời.
Việc tác giả sử dụng ngôi kể thứ nhất, cho Dế Mèn tự kể lại câu chuyện của mình đã khiến câu chuyện trở nên chân thực, khách quan, nhân
vật có thể bộc lộ rõ nhất tâm trạng, cảm xúc của mình khi trải qua.
⇒ Có thể xem cái chết của Dế Choắt là một bước ngoặt với Dế Mèn vì qua đó chú đã nhận thức được những sai lầm của bản thân đó là tính
kiêu căng, tự phụ. Với mọi người, Dế Mèn đã nhận thức được sự ích kỉ, coi thường người khác.
5. Bài học cho bản thân
Qua truyện của Dế Mèn ta thấy Dế Mèn mới lớn, sống trong một thế giới nhỏ bé, quanh quẩn gồm những người hiền lành nên đã lầm tưởng
sự ngông cuồng là tài ba của mình, có thái độ kiêu căng, tự phụ, xốc nổi.
Trước những lỗi lầm, chúng ta phải biết nhận ra và sửa chữa những sai lầm mà mình mắc phải, phải tự trọng, biết nghiêm khắc trước những
thiếu sót của mình.
6. Đặc điểm truyện đồng thoại
Nhân vật là loài vật đã được nhân hóa : Dế mèn, Dến Choắt, Chị Cốc, anh Gọng Vó, chị Cào Cào
Thể hiện đặc điểm sinh hoạt của loài vật như ngoại hình của Dế Mèn được miêu tả bằng những chi tiết đặc trưng cho loài dế (râu, đôi càng,
đôi cánh, đầu, cái răng đen), tập tính sinh sống của loài dế là đào hang để ở, hành động của Dế Mèn như đạp phanh phách lên ngọn cỏ, đào
hang…
Qua những đặc điểm đó cũng thể hiện đặc điểm của con người được thể hiện ở tính cách của Dế Mèn như tự tin, trẻ trung, yêu đời nhưng
cũng vô cùng xốc nổi, kiêu căng, coi thường người khác…
III. Tổng kết
1. Nội dung
Vẻ đẹp cường tráng của Dế Mèn. Dế Mèn kiêu căng, xốc nổi gây ra cái chết của Dế Choắt.
Bài học về lối sống thân ái, chan hòa; yêu thương giúp đỡ bạn bè; cách ứng xử lễ độ, khiêm nhường; sự tự chủ; ăn năn hối lỗi trước cử chỉ
sai lầm...
2. Nghệ thuật
Truyện đồng thoại với nội dung hấp dẫn, sinh động.
Kể chuyện kết hợp với miêu tả.
Xây dựng hình tượng nhân vật Dế Mèn gần gũi với trẻ thơ, miêu tả loài vật chính xác, sinh động
VĂN BẢN 2:
I. Trải nghiệm cùng văn bản
1. Đọc văn bản “ Giọt sương đêm”
2. Tác giả, tác phẩm
Tác giả : Trần Đức Tiến
Thể loại : Truyện đồng thoại
Ngôi kể : thứ ba
II. Suy ngẫm và phản hồi
1. Nhân vật và ngôi kể
Nhân vật: Tắc Kè, Thằn Lằn, Ốc Sên, Cụ giáo Cóc, Bọ Dừa,
Người kể chuyện: người kể chuyện ẩn mình
Ngôi kể: Ngôi thứ ba
⇒ Trong truyện đồng thoại, người kể chuyện có thể là nhân vật, có thể là người kể chuyện giấu mình.
Ngôi kể có thể là ngôi thứ nhất (xưng tôi), cũng có thể là ngôi thứ ba (giấu mình)
2. Cốt truyện
Sắp xếp các sự việc: e – b – d – a - c
Sự việc quan trọng nhất: “Sáng hôm sau, sau khi kể cho Thằn Lằn nghe về một đêm mất ngủ của mình, Bọ
Dừa khoác ba lô hành lí lên vai, chào tạm biệt Thằn Lằn để về quê “ là quan trọng nhất. Vì sự việc này có ý
nghĩa sâu sắc, sau một đêm mất ngủ, Bọ Dừa nhận ra chính mình, quay trở về quê hương sau bao năm xa
cách, quên lãng.
3. Biện pháp nghệ thuật
Nghệ thuật: Điệp từ, so sánh, đặc biệt là nhân hóa
Đặc điểm truyện đồng thoại: các nhân vật được nhân hóa nhưng vừa phản ánh các đặc điểm sinh hoạt của
loài vật lại gắn liền với nhận thức, tâm lí, đặc điểm lứa tuổi thiếu nhi
4. Nhân vật Bọ Dừa
Ngoại hình: Béo, râu ngắn
Sở thích: Thích ăn lá trúc
Nghề nghiệp: nghề buôn
Hoàn cảnh: xa quê đi buôn bán đã lâu chưa về, trên đường đi ghé vào xóm Bờ Dậu tìm chỗ nghỉ ngơi; ngủ
ở ngoài trời
Lí do khiến Bọ Dừa về quê sau một đêm mất ngủ: trong đêm thănh vắng, ông lắng rõ được những âm thanh
quen thuộc. Đặc biệt là khi giọt sương rơi xuống cổ khiến ông sực nhớ quê nhà. Những âm thanh, hình ảnh
đó đã gợi nhắc ông về hình ảnh thân thuộc của quê hương mà bao lâu nay ông bỏ quên.
5. Thông điệp của văn bản
Trải nghiệm của Bọ Dừa trong đêm ấy là ông đã ngủ ngoài trời và ông đã có cơ hội được ngắm nhìn trời
mây, lắng nghe âm thanh của lá cây, côn trùng, tiếng gió, tiếng sương rơi.
Qua đó, tác giả muốn gửi đến chúng ta thông điệp: đôi khi vì cuộc sống bận rộn khiến chúng ta quên đi
những điều thân thuộc, gần gũi với chính mình. Vì vậy hãy biết trân trọng những thứ mình đang có: quê
hương, gia đình, người thân, bạn bè...
6. Kết thúc truyện
Kết thúc truyện: Bọ Dừa đi về quê
Góp phần thể hiện thông điệp của văn bản: Hãy trân trọng quê hương, gia đình đừng mãi bôn ba, phiêu bạt
bên ngoài. Nếu chọn cách kết truyện là cám ơn mọi người trong xóm rồi tiếp tục hành trình của mình không
thể hiện được thông điệp-> không có giá trị giáo dục.
Học sinh sáng tạo kết truyện theo tưởng tượng của bản thân. Gợi ý:
Sau khi nghe câu chuyện của Bọ Rùa, Thằn Lằn khuyên:
- Thế thì bác nên về thăm quê đi, xem các cụ có khỏe không. Còn bà con xóm giềng nữa. Lỡ mình đi lâu về họ
quên cả mình thì chết.
- Tôi cũng dự tính như vậy. Nhưng ngặt nỗi chuyến hàng này của tôi nặng vốn quá, mà bán chưa được bao
nhiêu. Có lẽ bán hết chỗ này tôi mới về quê được bác ạ.
Nói xong Bọ Dừa chào mọi người rồi tiếp tục hành trình của mình.
III. Tổng kết
1. Nội dung
Văn bản kể lại một đêm mất ngủ của Bọ Dừa tại xóm Bờ Giậu. Những âm thanh, hình ảnh quen thuộc đó
đã gợi nhắc ông về hình ảnh quê hương mà bao lâu nay ông bỏ quên.
Hãy biết trân trọng những giá trị của cuộc sống mà con người vốn dễ lãng quên.
2. Nghệ thuật
Nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, cách kể chuyện hấp dẫn và sinh động
VĂN BẢN 3:
I. Tìm hiểu về nhân vật
Câu nói của nhân vật bố có thể hiểu: món quà chính là tình cảm, tấm lòng của người tặng đã gửi gắm vào
đó nên món quà dù lớn hay nhỏ đều đẹp. Cách chúng ta nhận, trân trọng món quà của người tặng cũng thể
hiện nét đẹp của chính mình.
Qua văn bản, em cảm nhận được tình cảm cha con gắn bó tha thiết, người cha đã thể hiện tình yêu thương
với đứa con thông qua những bài học sâu sắc từ cuộc sống, biết yêu thương, lắng nghe và thấu hiểu từ
thiên nhiên, biết trân trọng mọi thứ xung quanh mình.
II. Thông điệp của tác phẩm
Câu văn “những bông hoa chính là người đưa đường” cho ta hiểu “thế giới” chính là những điều thân
thuộc, gần gũi với chính mình. Khi nhắm mắt lại và cảm nhận bằng mọi thứ bằng mọi giác quan, bạn sẽ
thấy con đường đi của riêng mình. Qua đó, chúng ta thấy tác giả đã thể hiện thái độ trân trọng, yêu thương
thế giới tự nhiên.
Đồng tình với thái độ của người bố khi nhận món quà của Tý vì Tý luôn dành những trái ổi ngon nhất để
dành tặng nên người bố dù không thích ăn nhưng vì Tý mà vẫn ăn. Qua đấy thể hiện thái độ trân trọng,
biết ơn của người bố với mòn quà mà mình được nhận.
⇒ Từ đó em rút ra được bài học cho mình trong cách ứng xử: cần trân trọng, biết ơn tình cảm, tấm lòng
của người khác dành cho mình, Dù thích hay không thích món quà, chúng ta cũng không nên từ chối hay
khước từ người tặng bởi đó là tình cảm, tâm huyết mà họ đã dành cho chúng ta.
III. Cách cảm nhận về thế giới tự nhiên
Cảm nhận của nhân vật tôi trong câu chuyện đã dần dần thay đổi: ban đầu, nhân vật không thể đoán được
tên loài hoa, dần dần đã thuộc tên và rồi khi nhắm mắt lại, ngửi mùi hoa cũng có thể đoán đúng tên. Như
vậy, nhân vật đã cảm nhận thế giới tự nhiên bằng nhiều giác quan và khi càng hiểu, nhân vật càng trân
trọng và thêm yêu thiên nhiên quanh mình.
Cách cảm nhận ấy đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta, đó là cách cảm nhận sâu sắc, không hời hợt.
Khi ta cảm nhận bằng cả tâm hồn và tình yêu thương ta sẽ phát hiện được những vẻ đẹp, những giá trị từ
những điều bình dị nhất
THỰC HÀNH TIẾNG VIẾT
Bài tập 1:
Câu a chủ ngữ là “Vuốt” không thể hiện rõ được ở vị trí nào mà chỉ nêu chung chung.
Còn câu b “Những cái vuốt ở chân, ở kheo” cho ta thấy vị trí rõ ràng hơn.
⇒ Như vậy việc dùng cụm danh từ là chủ ngữ của câu giúp chúng ta nắm bắt được thông tin chi tiết, rõ
ràng hơn.
Bài tập 2:
So với cách dùng vị ngữ “bò lên” thì cách diễn đạt “mon men bò lên” (cụm đồng từ) đã bổ sung thêm những
thành phần miêu tả cách thức thực hiện hành động, giúp ta hình dung rõ hơn thái độ của Dế Mèn đó là rón
rén, sợ sệt, từ từ bò lên sau khi biết chị Cốc đã bỏ đi.
So với cách dùng vị ngữ “khóc” thì cụm tinh từ “khóc thảm thiết” (cụm động từ) diễn tả thêm cách thức
thực hiện hành động, thể hiện rõ mức độ khóc lóc vô cùng thương tâm, đau xót
So với cách diễn đạt “nóng”, cụm từ “nóng hầm hập” (cụm tính từ) bổ sung thêm thông tin về cái nóng, làm
cho thông tin miêu tả trở nên chi tiết, giúp ta hình dung mức độ nóng đạt tới đỉnh điểm, vô cùng oi bức, khó
chịu.
⇒ Việc dùng cụm động từ, cụm tính từ làm thành phần vị ngữ của câu là bổ sung thông tin chi tiết, cụ thể
cho việc miêu tả hành động, tính chất của chủ thể được nói đến trong câu.
Bài tập 3. Văn bản Bài học đường đời đầu tiên (Tô Hoài):
Tôi ra đứng cửa hang như mọi khi, xem hoàng hôn xuống.
⇒ Vị ngữ trong câu là chuỗi gồm hai cụm động từ.
Thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên.
⇒ Vị ngữ trong câu này là chuỗi gồm hơn hai cụm động từ.
Giọt sương đêm (Trần Đức Tiến)
Bọ Dừa rùng mình, tỉnh hẳn.
⇒ Vị ngữ trong câu là chuỗi gồm hai cụm động từ.
Thằn Lằn vừa chui ra khỏi bình gốm vỡ, chưa kịp vươn vai tập mấy động tác thể dục, đã thấy ông khách
quần áo chỉnh tề đứng chờ.
⇒ Vị ngữ trong câu này là chuỗi gồm hơn hai cụm động từ.
Bài tập 4. Xác định chủ ngữ và vị ngữ
Khách/ giật mình
Lá cây/ xào xạc.
Trời /rét.
Mở rộng thành phần câu:
Vị khách đó/ giật mình.
Những chiếc lá cây bàng/ rơi xào xạc
Trời/ rét buốt.
⇒ Những câu mở rộng thành phần câu giúp thể hiện chi tiết, rõ ràng hơn so với các câu chưa mở rộng.
Bài tập 5
a. Các từ láy: phanh phách, hủn hoẳn, phành phạch, giòn giã, rung rinh.
⇒ Các từ láy góp phần diễn tả rõ ràng, chi tiết hơn vẻ đẹp cường tráng, khoẻ mạnh của chú Dế Mèn.
b. Những câu văn sử dụng phép so sánh: Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua.
⇒ Miêu tả những chiếc vuốt của Dế Mèn rất sắc nhọn, diễn tả sức mạnh của Dế Mèn.
Bài tập 6:
a. Nghĩa của từ tợn:
Bạo đến mức liều lĩnh, không biết sợ hãi gì , lộ rõ vẻ thách thức.
Chỉ sự khác thường ở một mức độ cao (rét tợn)
b. Từ “tợn” trong đoạn văn trên được sử dụng với nghĩa hiểu: Bạo đến mức liều lĩnh, không biết sợ hãi gì ,
lộ rõ vẻ thách thức.
Cơ sở để xác định là dựa vào nội dung những câu văn sau đó: Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm.
Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn, không ai đáp lại.
VĂN BẢN 4:
I. Đặc điểm truyện đồng thoại
Các đặc điểm của truyện đồng thoại:
Nhân vật là các loài vật, đồ vật đã được nhân hoá: trong văn bản này các nhân vật là cô Gió, hoa tầm xuân,
chị Hũ, bạn ngô, bác lau sậy, chú Ong vàng có lời nói, cử chỉ như con người.
Thể hiện đặc điểm sinh hoạt của sự vật như các chi tiết: cô Gió vừa vội vã bay đi, cô dừng lại một vài giây
rồi từ từ thổi hơi mát vào giường bà… Qua những đặc điểm đó cũng thể hiện đặc điểm tính cách của con
người đó là sự quan tâm, chăm sóc dành cho mọi người.
II. Thông điệp
Dù Gió không có dáng hình, chẳng ai nhìn thấy nhưng mọi người vẫn nhận ra cô vì cô luôn giúp đỡ người
khác, mang lại niềm vui và tiếng cười cho mọi người. Chúng ta cũng như vậy, những việc làm tốt có thể
không ai nhìn thấy nhưng chỉ cần chúng ta luôn biết quan tâm, giúp đỡ, mang lại niềm vui và tiếng cười cho
người khác thì mọi người sẽ yêu thương và quý trọng bạn
BÀI 6
1. Tìm hiểu tri thức về kiểu văn bản
Đặc điểm kiểu bài
Kể lại trải nghiệm của bản thân
Bài học đường đời đầu tiên
Ngôi kể
Thứ nhất
Các sự kiện được sắp xếp theo trình tự
Thời gian
Phương thức biểu đạt
Kể kết hợp với tả, biểu cảm
Bài học rút ra
Không nên ngông cuồng, hống hách
II. Phân tích kiểu văn bản
Câu chuyện sử dụng ngôi kể thứ nhất
Những sự việc chính:
Làng tôi có con sông êm đầu chảy qua làng, chúng tôi thường rủ nhau tắm sông.
Buổi trưa hôm ấy, sau khi đá bóng, đám trẻ rủ nhau ra sông tắm và nảy ra ý định tổ chức cuộc thi bơi giữa
đám trẻ trong và ngoài làng.
Tôi nhận lời thách đấu, đã bơi nhanh và khi nhận ra đã bơi khá xa bờ.
Bỗng bắp chân bị chuột rút và đau đớn, tôi sợ hãi tột độ.
Một người làng đi câu cá gần đấy đã nghe tiếng kêu, nhanh chóng bơi ra và đưa tôi vào bờ.
Tôi rút ra bài học chỉ nên bơi lội ở nơi an toàn, có sự giám sát của người lớn.
Một số chi tiết có sử dụng yếu tố miêu tả:
Vào mùa hè, nước sông thường cạn nên chúng tôi tung tăng bơi lội, trêu đùa rộn rã cả một góc sông.
Trận đấu diễn ra vô cùng căng thẳng, gay cấn, quyết liệt.
⇒ Việc sử dụng yếu tố miêu tả giúp cho bài văn thêm sinh động, hấp dẫn, cuốn hút người đọc.
Nhân vật “tôi” đã nhận ra sau trải nghiệm ấy là bài học sâu sắc, cần nghe lời người lớn và chỉ nên bơi lội ở
nơi an toàn, có sự giám sát của người lớn.
Em rút ra được một số kinh nghiệm khi kể lại một trải nghiệm của bản thân:
Dùng ngôi thứ nhất để kể
Kết hợp kể và miêu tả
Trình bày các sự việc theo trình tự hợp lí
Nêu ý nghĩa của trải nghiệm đối với bản thân.
Bài văn phải đảm bảo bố cục 3 phần
BÀI 7
. Bảng tóm tắt nội dung chính của ba văn bản
Văn bản
Nội dung chính
Bài học đường đời đầu tiên
Văn bản miêu tả Dế Mèn có vẻ đẹp cường tráng nhưng tính cách kiêu căng xốc
nổi đã gây ra cái chết của Dế Choắt. Dế Mèn hối hận và rút ra bài học cho
mình.
Giọt sương đêm
Văn bản kể về Bọ Dừa đến xóm Bờ Giậu để tìm một chỗ trọ. Bọ Dừa đã
quyết định ngủ tạm ngoài vòm trúc và trong đêm ấy ông đã cảm nhận được
những âm thanh, hình ảnh quen thuộc và đặc biệt là giọt sương đêm rơi khiến
ông tỉnh giấc, sực nhớ quê nhà. Sáng hôm sau ông đã quyết định trở về quê.
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ
Truyển kể về nhân vật tôi đã được người cha hướng dẫn những cách cảm
nhận về cuộc sống, nhắm mắt sờ từng bông hoa rồi tập đoán, ngửi mùi hương
và đoán tên hoa, những món quà… Qua đó thấy được tình yêu thương người
cha dành cho đứa con.
II. Cách cảm nhận cuộc sống của các nhân vật trong ba văn bản trên có gì giống và khác nhau
Giống nhau: các nhân vật đều có những trải nghiệm từ cuộc sống và qua các trải nghiệm đó, mỗi nhân vật
đều rút ra được cho bản thân những bài học quý giá.
Khác nhau:
Bài học đường đời đầu tiên: nhân vật đã trải qua vấp ngã, sai lầm khiến bản thân phải ân hận. Từ đó rút
ra được bài học cho chính mình.
Giọt sương đêm: nhân vật đã trải qua một đêm thức trắng và sực tỉnh, nhận ra điều mình lãng quên từ lâu.
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ: nhân vật đã có những cảm nhận sâu sắc về cuộc sống thông qua những trải
nghiệm từ thiên nhiên, con người xung quanh mình.
III. Văn bản Bài học đường đời đầu tiên và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ thuộc thể loại nào?
Thuộc thể loại truyện đồng thoại. Vì hai văn bản đều có những đặc điểm đặc trưng của truyện đồng thoại:
Nhân vật là các loài vật được nhân hoá.
Nhân vật mang những đặc điểm sinh hoạt của loài vật vừa thể hiện đặc điểm của con người.
IV. Sơ đồ
V. Bài học kinh nghiệm về cách kể lại một trải nghiệm của bản thân
Xác định đề tài và lựa chọn trải nghiệm của bản thân kỉ niệm sâu sắc, ý nghĩa.
Nhớ lại những sự việc và sắp xếp các ý theo trình tự câu chuyện hợp lí.
VI. Ý nghĩa trải nghiệm đối với cuộc sống
Qua những bài học này, ta hiểu rằng trong cuộc sống những trải nghiệm sẽ giúp ta có thêm kinh nghiệm
sống, cảm nhận thiên nhiên, con người và cuộc sống trọn vẹn hơn. Từ đó, em hiểu được những giá trị trong
cuộc sống và hoàn thiện nhân cách, tâm hồn mình hơn.
 






Các ý kiến mới nhất