Chào mừng quý vị đến với CLB Giáo viên Hải Dương.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11
HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
quyen-luc-cua-khong-quyen-luc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:23' 06-03-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:23' 06-03-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
QUYỀN LỰC
CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Václav Havel
QUYỀN LỰC
CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Chủ trương: Mở Miệng
Liên lạc: nxbgiayvun@yahoo.com
Quyền lực của kẻ không quyền lực
Tập tiểu luận chính trị của Václav Havel
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Giấy Vụn xuất bản lần thứ nhứt tại Huê Kỳ
Khổ 13x20,5cm
In xong giữa năm 2013
Chịu trách nhiệm xuất bản: Bùi Chát
Bìa: Trần Kiến Quốc
Hình bìa: Phác thảo tượng đài Václav Havel của Barbora Doušová
Trình bày: Giấy Vụn
Bản quyền bản dịch tiếng Việt © 2013, Giấy Vụn,
Phạm Nguyên Trường, Nhóm Văn Lang.
MỤC LỤC
Giới thiệu
Václav Havel: Ước mộng và vỡ mộng................. 009
Petr Pithart
Thế kỷ hai mươi của Havel...................................021
Václav Bělohradský
Václav Havel
Bàn về ngôn từ....................................................... 033
Chính trị và lương tâm......................................... 057
Quyền lực của kẻ không quyền lực..................... 093
Thư gửi ông Husák................................................ 231
Về ý nghĩa của hiến chương 77........................... 285
Phụ lục
Tuyên ngôn Hiến chương 77............................... 319
Ghi chú về bản dịch .................................................. 329
VÁCLAV HAVEL: ƯỚC MỘNG VÀ VỠ MỘNG
Petr Pithart
V
áclav Havel được khắp nơi trên thế giới biết đến,
nhưng có lẽ chỉ như một huyền thoại: “Nhà
triết học trên ngai”; “Người tù chỉ một năm thành tổng
thống”… Và chắc là những lời có cánh của ông “Sự thật
và tình yêu phải chiến thắng dối trá và hận thù” cũng
được biết đến.
Đã hơn một năm từ ngày ông mất và 23 năm kể từ
“năm tháng kỳ diệu” (1989) và chúng ta biết chắc chắn
rằng sự thật và tình yêu hiện chưa chiến thắng, thậm
chí không chiến thắng, và chúng ta trở lại với những bài
luận lớn của ông. Từ bây giờ tôi sẽ cùng các bạn, những
người bạn Việt. Ông đã nghĩ như thế nào về tất cả những
điều đó? Thời đó, chúng tôi đã đọc ông như thế nào? Và
ngày nay chúng ta đọc ông ra sao? Có giống nhau không?
Chúng ta đã rút được kinh nghiệm từ sự vỡ mộng? Mấy
chục năm trước, chúng ta đọc những bài luận của ông
10
Quyền lực của kẻ không quyền lực
trước hết như là những bài phê bình chế độ dưới thời
bình thường hóa1, phê bình mối tương quan trong Tiệp
Khắc bị chiếm đóng dưới chính phủ của Gustav Husak.
Ngày nay, chúng ta giàu kinh nghiệm hơn trong những
việc gì? Có phải ngay từ ngày đó Havel đã không còn
niềm tin với nền dân chủ nghị viện? Với ý nghĩa của việc
thành lập các đảng phái chính trị? Chúng ta vốn biết,
trong các bài viết của ông có những đoạn phê bình như
thế. Hôm nay chúng ta sẽ quay về chính những đoạn đó.
Và chúng ta tự hỏi, sự hoài nghi của ông ngày đó vốn chỉ
là những ám chỉ, phải chăng đã được khẳng định.
Ở đây tôi sẽ không tự đặt những câu hỏi to tát và quá
to tát, ví dụ, liệu có phải chủ nghĩa tư bản hiện nay đang
trong cơn khủng hoảng, liệu có phải nền văn minh Tây
Âu đang không có lối thoát. Chính tôi cũng không biết trả
lời những câu này. Những câu hỏi của tôi sẽ thực tế hơn.
Khi Havel viết những bài luận lớn của mình, chắc
chắn ông không tính đến việc chủ nghĩa cộng sản, đầy
mệt mỏi, thiếu thuyết phục và sáo mòn sẽ sụp đổ một
cách nhanh chóng và dễ dàng đến thế, bởi vì cũng như
chủ nghĩa cộng sản, người dân Tiệp Khắc cũng mệt mỏi
và trơ mòn, và cũng hệt như chủ nghĩa cộng sản, họ cũng
chẳng hề chắc chắn cái gì sẽ phải đến tiếp sau chủ nghĩa
“Bình thường hóa” là tên gọi chính thức cho việc thanh lọc
trong đảng cộng sản, việc sa thải công nhân viên, việc lập lại chế
độ kiểm duyệt, và đóng cửa các hội đoàn, các tổ chức chính trị
và phi chính trị, và các biện pháp gây áp lực khác, sau khi những
cải cách cởi mở của mùa xuân Praha 1968 nhằm thúc đẩy nhanh
quá trình dân chủ hóa, bị quân đội các nước khối Varsava đàn áp.
1.
Václav Havel
11
cộng sản. Quả thật, chúng ta còn không đặt được đúng
tên cho mối tương quan mà chúng ta đã sống ở trong đó.
Nó đã và vẫn đang được gọi là “chế độ độc tài toàn trị”,
thỉnh thoảng còn là “toàn trị”, nhưng những người biết
suy xét đều biết rõ, chế độ độc tài toàn trị, sự khủng bố
đã có mặt ở đây khoảng những năm 1948 – 1953. Nhất
là sau “mùa xuân Praha” và sau khi đất nước bị chiếm
đóng vào tháng Tám năm 1968, chẳng một ai, thậm chí
cả những người đại diện cho chế độ cũng chẳng hề tin
những điều mà chính họ hô hào., nói gì đến việc thuyết
phục dân chúng bằng cách khủng bố. Vì thiếu một khái
niệm khác xác thực hơn, Václav Havel đã nói về chế độ
“hậu toàn trị”.
Ngày nay chúng ta biết, rằng chế độ ấy đã trụ được
một thời gian dài như thế cũng là do luôn được thị trường
xám2, vốn đã qua nhiều chịu đựng, “cải thiện”, “duy trì
tiếp nước” . Tôi nghĩ, người dân của tất cả các chế độ suy
sụp, tự xưng là xã hội hay cộng sản chủ nghĩa, đều có rất
nhiều kinh nghiệm với thị trường này. Một thị trường
không được thừa nhận, luôn tìm được những kẽ hở cho
mình, nhưng đó là thị trường vô nguyên tắc, không thuế
má và không sổ sách chứng từ. Đó là một thị trường hư
hỏng, trong bản chất là tham nhũng.
Khác với thị trường Đen là những hoạt động kinh tế trái phép
và rõ ràng là phi pháp, thị trường Xám nằm đâu đó giữa ranh giới
trắng và đen. Những hoạt động của nó vi phạm những lề thói đạo
đức, luân lý thông thường, nhưng hầu như ko thể chứng minh nó
vi phạm luật pháp (theo wikipedia)
2.
12
Quyền lực của kẻ không quyền lực
Khi chế độ sụp đổ (và cùng với Havel, tôi đã có mặt
trực tiếp ở đó, chúng tôi cùng nhau thương lượng với các
đại diện của bên chính quyền đang từ chức), chúng tôi
ngạc nhiên bởi nhà cầm quyền rất nhanh chóng rút lui.
Điều đó dẫn tôi đến một việc là tháng Giêng năm 1990
tôi đã công khai tuyên bố, rằng năm 1989, chẳng có cuộc
cách mạng nào xảy ra, chẳng qua chỉ có mỗi việc chuyển
giao quyền lực theo thỏa thuận. Tôi tuyên bố điều đó
cũng là vì muốn làm tan bớt những chờ đợi căng thẳng.
Nhưng chính trong tuyên bố đó có chứa một liều lượng
đáng kể của sự vỡ mộng. Lại có lần Václav Havel đã nói
về sự cần thiết phải kết thúc cuộc cách mạng, lần khác lại
nói về sự cần thiết của “cuộc cách mạng thứ hai”. Cả hai
chúng tôi ngày đó đã sớm bị thất vọng: những mối tương
quan cũ đã lại quay trở lại trong bộ áo choàng mới dễ
được chấp nhận theo kiểu lối sống tiêu thụ. Dân chủ tuy
đã được thực hiện, nhưng sao đó trống rỗng.
Cụ thể việc đã xảy ra là tham nhũng “nhỏ” kiểu xã hội
chủ nghĩa đã chuyển thể biến thành tham nhũng lớn tư
bản chủ nghĩa. Những người vốn thành thạo trong tham
nhũng nhỏ kiểu xã hội chủ nghĩa kia, đã thành công cả
trong chuyện tham nhũng lớn tư bản chủ nghĩa nọ – họ
có quan hệ, được đặc quyền tiếp cận thông tin, đã là bộ
phận của một mạng lưới những mối quan hệ đầy thế lực.
Điều này đã hiển hiện rõ rệt trong vòng chưa đầy 10
năm từ sau tháng Mười một năm 1989, khi hai đảng
phái chính trị lớn nhất – một tả và một hữu – đã thỏa
thuận với nhau, rằng dù bất cứ đảng nào trong họ sẽ nắm
Václav Havel
13
quyền, đảng kia, về mặt hình thức nằm bên phe đối lập,
sẽ không bao giờ đòi bỏ phiếu tín nhiệm trong quốc hội,
có nghĩa là sẽ đảm bảo việc cầm quyền liên tục (và việc
ăn cắp liên tục) cho đến tận kỳ bầu cử kế tiếp, cho dù có
xảy ra bất cứ chuyện gì. Họ đã xấc xược gọi sự sắp xếp
này “hợp đồng giữa các phe đối lập”, mặc dù thực chất
của nó là loại bỏ phe đối lập khỏi các hoạt động chính trị
thường ngày. Ngoài kỳ bầu cử (bốn năm một lần) không
có điều gì có thể được thay đổi, sửa đổi, đưa vào trật tự.
Ngoài các bộ máy của các đảng phái chính trị, tất cả các
công dân tích cực không thuộc đảng phái và tất cả các hội
đoàn hình thành một cách tự phát (như là các tổ chức
vô chính phủ và nhất là tổ chức dân sự) đều bị loại khỏi
cuộc chơi. “Kẻ nào không trải qua lò lửa của bầu cử, sẽ
không có cách nào khác ngoài im lặng”, người lãnh đạo
phe tả – đảng xã hội dân chủ – đã nói như vậy. Đó là sự
đục ruỗng toàn diện nền dân chủ nghị viện. Thay vì một
đảng có toàn quyền, tuy là hai đảng, nhưng che chắn lẫn
cho nhau tội lỗi của những thành viên của mình, và vì thế
bị buộc chặt với nhau bằng chính khả năng đảng này làm
phương hại đảng kia.
Khi đó cùng với nhiều người khác chúng tôi đã bắt
đầu quay trở lại với những câu viết của Havel về sức
mạnh của những người dân thường và về sức mạnh của
ngôn từ. Trong lần đọc thứ hai, chúng tôi đã đọc ra còn
nhiều điều hơn cả vào thời điểm những bài viết đó xuất
hiện và được lan truyền dưới dạng samizdat.
14
Quyền lực của kẻ không quyền lực
Chúng tôi đã được minh chứng, rằng Václav Havel
chưa bao giờ bị ảo tưởng về chế độ dân chủ nghị viện
kiểu “phương Tây” mà chúng tôi đã cùng ông xây đắp.
Nhưng mà chúng tôi vẫn phải thử!
Ngay cả khi, sau 4 năm, vị tân chủ tịch của đảng dân
chủ xã hội đã từ chối việc tiếp tục thực hiện “hợp đồng
các phe đối lập” trong thực tế, chúng ta vẫn đang sa lầy
trong vũng bùn tham nhũng từ những ngày ấy đến tận
bây giờ: trong vòng chỉ 4 năm, khi hợp đồng có hiệu lực,
đã kịp hình thành những, “hội những người anh em” bền
vững (đấy là Havel gọi nó như thế) của các doanh nhân
và các chính trị gia, không phụ thuộc vào việc họ đến từ
đảng nào trong 2 đảng lớn. Khi đó đã hình thành một cấu
trúc hầu như không đáng kể, tuy nhiên cực kỳ có thế lực
mà khó lật tẩy vô cùng. Thành viên từ hai phái đảng, thay
vì kiểm tra lẫn nhau như các đảng phái chính trị đối lập,
họ cùng thủ thế cờ hòa: các anh biết chúng tôi có chuyện,
nhưng cả chúng tôi cũng biết chuyện bên anh. Cấu trúc
này đã đến tận bây giờ vẫn đang kiểm soát phần quan
trọng đặc biệt là đời sống kinh tế trong cả nước. Quyền
lợi kinh tế tư nhân thấm qua và ảnh hưởng tới chính trị,
ngay cả khi chưa bị đe dọa bởi thế mạnh của các công ty
đa quốc gia trong thế giới đang được toàn cầu hóa. Tôi
luôn cho rằng, trước khi bắt đầu vật lộn với các vấn đề
lớn do quá trình toàn cầu hóa mang lại, chúng ta phải
thử đưa các cơ chế kiểm tra dân chủ vào hoạt động. Phải
thử mặc dù ý thức được những hạn chế của công việc
kiểm tra .
Václav Havel
15
Chống lại chính phủ của những hội đoàn những người
anh em, những người muốn thay đổi cả hệ thống bầu cử
để hợp đồng của hai đảng nắm quyền sẽ không bao giờ
bị điều gì phá ngang kế hoạch của họ, Václav Havel và
những người thân cận với ông đã dùng những công cụ
sẵn có của nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Tòa án Hiến
pháp3. Điều đó là nhờ Hiến pháp đã ra đời chỉ 2 năm
sau khi chính quyền thay đổi, có chứa những nguyên tắc
chính là bộ phanh chống lại việc đục ruỗng nền dân chủ
bằng những thủ thuật theo kiểu chủ nghĩa bán-mua4 . Tôi
chưa mất lòng tin vào nhà nước pháp quyền, ngay cả khi
tôi không nghĩ, rằng chính lòng tin phải bảo vệ được nền
dân chủ đến cùng và dựng được một bờ đê không thể
thẩm thấu đối lại với sự tham nhũng.
Václav Havel mãi về sau mới coi nhà nước pháp quyền
như một lý tưởng và như một cố gắng thực hiện lý tưởng
đó. Là Tổng thống, ông dành nhiều quan tâm cho Toà
án Hiến pháp, thành viên của tòa án này cả hai lần đã do
ông đề cử (sau mười năm) và những đề cử của ông đều
rất tốt. Đến tận bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục hưởng lợi
Tòa án Hiến pháp là một cơ quan tư pháp để bảo vệ việc thực
thi Hiến pháp. Trách nhiệm và thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp
được xác định trong chính Hiến pháp của Cộng hòa Séc.
3.
Chủ nghĩa bán-mua (Clientelism), chủ nghĩa khách hàng ngày
nay được hiểu là mối quan hệ, khi người chức trách và người
khách hàng muốn có được hợp đồng của chính phủ cùng có chung
quyền lợi riêng, họ bảo vệ lẫn nhau, và trong việc bảo vệ và được
bảo vệ này, họ được lợi về mặt kinh tế. Chủ nghĩa bán-mua thực
chất là một dạng tham nhũng (theo wikipedia)
4.
16
Quyền lực của kẻ không quyền lực
từ đội ngũ tòa án đã được ông sắp xếp rất tốt. Tuy nhiên,
chẳng bao lâu nữa cả nhiệm kỳ mười năm lần thứ hai của
những vị quan tòa cuối cùng do Havel đề cử sẽ kết thúc.
Hoàn toàn có thể nói rằng, Václav Havel càng ngày
càng đánh giá cao các tổ chức độc lập, nghĩa là các tổ chức
mà các đảng phái chính trị chỉ có thể gây ảnh hưởng một
cách gián tiếp (ví dụ chính Tòa án Hiến pháp, mà thành
viên của họ do Tổng thống đề cử và Thượng Nghị viện
phê duyệt, chỉ chịu một phần ảnh hưởng của Thượng
Nghị viện. Nhưng cả như Hội đồng Ngân hàng, Viện
kiểm sát tối cao, Người bảo vệ quyền lợi cho công chúng5
và các tổ chức khác, xuất thân từ các cơ quan được bầu
ra, nhưng những quyết định của họ không phụ thuộc vào
những cơ quan đó). Điều đó có nghĩa là, Havel không
phủ nhận tính đa nguyên chính trị dưới hình thức các
đảng phái chính trị, ông chỉ làm rõ hơn cho chính mình
quan niệm về ý nghĩa, về các khả năng của các đảng phái
chính trị.
Và chúng ta hãy đừng quên rằng mãi sau năm 1989,
Václav Havel mới phát triển quan niệm của mình về ý
nghĩa cơ bản của một xã hội dân sự được phát triển nhất
một cách có thể. Thiếu nó, các đảng phái chính trị sẽ khô
cằn, chết mòn và thoái hóa.
Ombudsman:Bảo vệ các cá nhân trước cách đối xử của các cơ
quan công sở và các tổ chức khác, nếu cách đối xử này mâu thuẫn
với luật pháp và không tuân theo nguyên tắc dân chủ của nhà nước
pháp quyền và của một ban quản lý tốt, hoặc khi các cơ quan công
sở vô dụng (Theo trang Ombudsman).
5.
Václav Havel
17
Ngay cả quãng cuối đời, thái độ nghi ngờ của Havel
đối với nền dân chủ nghị viện không phải là tuyệt đối. Các
đảng phái chính trị, bị kẹp trong nhà nước pháp quyền
(“rule of law”6) và được nuôi sống bởi lớp mô dày đặc là
các tổ chức dân sự, trước hết có ý nghĩa như là một cơ chế
kiểm soát. Ngày nay câu hỏi sẽ là, liệu những khiếm khuyết hiển nhiên của chế độ này có thật nghiêm trọng đến
mức đã đến lúc phải tìm và tìm cho ra một chế độ nào đó
khác, có hiệu lực hơn và công bằng hơn. Trong bài viết thứ
hai, Vaclav Belohradsky, người giới thiệu cho tuyển tập
này, có suy nghĩ như vậy. Tôi vẫn luôn luôn tin vào hiệu
lực của những qui tắc được đưa ra một cách thấu đáo, và
những tổ chức được xây đắp một cách đáng tin cậy.
Tôi nghĩ, sau năm 1989, thái độ nghi ngờ của Havel đối
với cơ chế truyền thống của nền dân chủ nghị viện, có sâu
sắc hơn trong một số tác phẩm, tuy nhiên trong tác phẩm
khác ông chững lại: ông hiểu ra, mặc dù nền dân chủ nghị
viện là cách quản lý rất không hoàn thiện, nhưng bởi vì, cả
về sau này, cần phải tính đến rằng, xã hội toàn những con
người cũng rất không hoàn thiện, vì thế ít ra nền dân chủ
không hoàn thiện này và những con người không hoàn
thiện kia, vẫn có thể sống cùng nhau một thời gian nữa.
Và ít nhất là ngăn chặn được điều xấu nhất.
Nhà nước pháp quyền, với định nghĩa căn bản nhất là không
có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân theo pháp
luật. Một nguyên tắc bắt nguồn một cách logic từ ý tưởng cho rằng
sự thật, cũng như luật, đều dựa trên những nguyên tắc căn bản có
thể được phát hiện ra nhưng không thể được tạo ra theo ước muốn.
(theo wikipedia)
6.
Quyền lực của kẻ không quyền lực
18
Tôi những muốn nói, rằng thái độ nghi ngờ thận trọng
và đồng thời mối hy vọng còn sót lại, có lẽ có thể thể hiện
trong mệnh thức sau: làm sao cho mai này không phải
vì thật nhiều hạnh phúc cho thật nhiều người, mà phải
làm sao cho mức độ bất công và đau khổ là nhỏ nhất. Tôi
nghĩ, với tất cả thái độ phê phán đối với nền văn minh
hiện đại, Havel ngày nay sẽ ký tên dưới câu này.
Cuối cùng tôi muốn nói, rằng sự quan tâm của các
bạn với Václav Havel của chúng tôi là niềm hân hạnh và
sự động viên lớn đối với tôi.
* Về tác giả:
Petr Pithart (2.1.1941) gia nhập Đảng Cộng sản
Tiệp Khắc từ năm 1960 và tự xin ra khỏi đảng vào năm
1968. Ông ký Hiến chương 77 ngay từ đợt đầu và tham
gia phát hành tư liệu cấm dưới thời cộng sản (samizdat).
Năm 1989 ông tham gia hoạt động và là thành viên ban
điều hành Diễn đàn Công dân. Sau thông báo ứng cử
chức Tổng thống của Václav Havel, tức là vào giữa tháng
mười hai năm 1989, Petr Pithart đã thay thế Havel trong
việc điều hành Diễn đàn Công dân. Sau đó ông làm Thủ
tướng trong hai năm rưỡi (còn trong thời kỳ liên bang
Tiệp Khắc) và sau nữa, ông là chủ tịch Thượng Nghị viện
trong Quốc hội Cộng hòa Séc. Từ tháng mười năm 2012
ông rời bỏ chính trường và hiện đang giảng dạy tại khoa
Luật trường ĐH Tổng hợp Charles Praha.
Václav Havel
19
Bài được viết riêng cho tập tiểu luận Quyền lực của kẻ
không quyền lực trong lần dịch và giới thiệu sang tiếng
Việt bởi nhà xuất bản Giấy Vụn.
THẾ KỶ HAI MƯƠI CỦA HAVEL
Václav Bělohradský
Đ
iều mà chúng ta vẫn gọi là “lịch sử phương Tây”
là một cuộc xung đột không ngừng giữa những
bậc tiên tri và những người chức sắc thực hiện sứ mệnh
của các bậc tiên tri, giữa các ý tưởng và các bộ máy thi
hành ý tưởng ấy. Chúng ta đã tạo ra các cơ cấu để có thể
biến những mục tiêu của cuộc sống thành hiện thực một
cách hợp lý, không phụ thuộc vào sở thích của mọi cá
nhân. Tuy nhiên những cơ cấu một khi đã được tạo ra
luôn tìm cách thay thế nhiều những mục tiêu khác nhau
của cuộc sống bằng một mục tiêu duy nhất – sự tự tái
sinh. Các cơ cấu này được thần thánh hóa, trong những
cẩm nang chính thức chúng giới hạn một cách diễn giải
trung thành với lý tưởng chống lại cách diễn giải dị giáo,
chúng tổ chức các cuộc thẩm tra và các hội đồng chuyên
môn; cơ cấu tự nó còn có ngôn ngữ riêng của mình mà
Havel đặt tên la ptydepe. Những câu chữ được viết bằng
22
Quyền lực của kẻ không quyền lực
thứ ngôn ngữ của cơ cấu này được công bố như “những
sự thật khách quan” và được công an ngôn ngữ bảo vệ. Cả
thế kỷ hai mươi là thế kỷ đậm màu sắc Kafka, bởi vì chính
những cơ cấu mà chúng ta đã tạo ra nhằm giải phóng ý
tưởng khỏi sự phụ thuộc vào định mệnh không thể lường
trước của những người đã phát hiện và phát minh chúng
cũng như khỏi sự phụ thuộc vào ý chí của họ, đã nuốt
chửng các thế giới trong cuộc sống của chúng ta. Những
gì còn lại chỉ là những thế giới riêng tư được trang bị đầy
đủ để chúng ta trốn vào đó trước sự trống rỗng của thế
giới chung. Càng ngày những thế giới riêng tư này càng
giống những cabin mô phỏng, như khi chúng ta học lái ô
tô: chúng ta chẳng đi tới đâu, chỉ có những cảnh quan ảo
chạy trước màn hình và chúng ta xử lý các tình huống ảo.
Tất cả các cơ cấu đều có một điểm chung: chúng trấn
áp câu hỏi về ý nghĩa như là một vấn đề mang tính phá
hoại, bởi vì nó làm cản trở việc tự tái sinh của cơ cấu.
Trong thời đại tự vận động câu hỏi về ý nghĩa lại trở về
với cuộc sống của chúng ta như một ý chí được sống trong
sự thật. “Sự thật” ở đây có nghĩa là “sống phù hợp với
những kinh nghiệm của chính mình”, không hợp tác với
sự giả dối đang chiếm lĩnh không gian công cộng – từ
việc quảng cáo, đến các khẩu hiệu do các dịch vụ truyền
thông và ngành công nghiệp giải trí, các bộ máy đảng
phái hay do văn hóa nguồn vốn tư nhân tài trợ đặt ra.
Václav Havel
23
Nhà bất đồng chính kiến
chứ không phải là người chống cộng
Václav Havel – nhà bất đồng chính kiến đã không thấy
trong nền dân chủ phương Tây một lối thoát nào sâu sắc
hơn. Ông khẳng định rằng nó chỉ che đậy khéo léo hơn
trước con người tình trạng khủng hoảng và do đó còn
nhấn con người chìm trong đó sâu hơn. Và cuối cùng,
chẳng phải sự ảm đạm và trống rỗng của cuộc sống trong
hệ thống hậu toàn trị là bức biếm họa sắc nét của cuộc sống
hiện đại nói chung và chẳng phải chúng ta…, trên thực tế,
chính là lời cảnh báo cho phương Tây vạch ra xu hướng
phát triển tiềm ẩn của chính phương Tây?– Ông đã viết
như vậy.
Chúng tôi đã phải quay lại câu này mỗi khi thảo luận
về vai trò của các nhà bất đồng chính kiến trong khối
cộng sản nhân bản dịch quyển Quyền lực của kẻ không
quyền lực ra tiếng Ý (có lẽ là bản dịch đầu tiên ở Châu
Âu). Chúng tôi không thấy họ “chỉ” là những kẻ chống
cộng mà là nhóm những người cùng chí hướng chống lại
một kẻ thù chung, chống lại sự tự vận động của những cơ
cấu mang tính toàn cầu và những mật mã không thể phá
được của những cơ cấu ấy. Quá trình toàn cầu hoá bắt
đầu, các nghị viện đã biến thành chốn hậu trường, quyền
lực chuyển dần đi khỏi những trung tâm có thể quan sát
được của nó; những cơ cấu cấp vệ tinh và bộ máy cảnh
sát kỹ thuật quan liêu của chúng đã thao túng được một
hệ thống mà chúng ta gọi là dân chủ chỉ vì theo quán
tính. Những thế lực không khoan nhượng với quá khứ
24
Quyền lực của kẻ không quyền lực
đã nắm toàn bộ quyền lực. Chiến tranh lạnh giữa chủ
nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã chỉ là một trong
những hình thức của quá trình, trong đó chủ nghĩa tư
bản toàn cầu đã thắng chủ nghĩa tư bản dân chủ.
Chúng ta đã gọi sự ảm đạm và trống rỗng của hệ
thống hậu toàn trị bằng từ bình thường hóa1; chúng ta
hãy đặt tên cho xu hướng phát triển tiềm ẩn của phương
Tây, mà trong mắt của Václav Havel, bình thường hóa là
lời cảnh báo cho xu hướng phát triển ấy, bằng thuật ngữ
bình thường hoá cấp vệ tinh. Đó là tình trạng, khi quyền
tự do của cá nhân không là gì khác ngoài một hệ thống
các lối thoát hiểm dẫn về những thế giới của riêng tư vô
cùng đa dạng; và trong đó quyền lực không cần phải tỏ
rõ sự chính danh của mình trước những người đi tìm ý
nghĩa của việc họ đang làm.
Cùng với Václav Havel, tôi nghĩ, chúng ta đã mai táng
cả niềm hy vọng rằng bất đồng chính kiến – cuộc tranh
luận trong không gian công cộng về ý nghĩa – sẽ đánh thức
xã hội dân chủ bước vào một cuộc sống mới, rằng bất đồng
chính kiến sẽ là một sức mạnh mới tạo nên lịch sử.
“Bình thường hóa” là tên gọi chính thức cho việc thanh lọc
trong đảng cộng sản, việc sa thải công nhân viên, việc lập lại chế
độ kiểm duyệt, và đóng cửa các hội đoàn, các tổ chức chính trị
và phi chính trị, và các biện pháp gây áp lực khác, sau khi những
cải cách cởi mở của mùa xuân Praha 1968 nhằm thúc đẩy nhanh
quá trình dân chủ hóa, bị quân đội các nước khối Varsava đàn áp.
1.
Václav Havel
25
Hậu dân chủ theo kiểu Havel
Hậu quả nghiêm trọng của toàn cầu hóa là cuộc đấu
tranh cho ý nghĩa đã không còn là động lực chính danh
cho các quyết định chính trị. Câu hỏi về tính chính danh
bị coi nhẹ dần trong xã hội, chỉ quyền lực là có thực –
nó lập nên những quan hệ mới, nó len lỏi vào thế giới
và làm thay đổi thế giới mà không cần chúng ta đồng ý;
chính trị không còn hướng tới ý nghĩa của quyền lực mà
chỉ hướng tới hiệu quả kỹ thuật của quyền lực. Nó đi tìm
những vùng đất mới để tự tái sinh, nó xâm thực những
lãnh địa mới của cuộc sống, nó trở thành “quyền lực sinh
học”. Niềm tin của Havel rằng “khi có sự tranh giành
quyền lực một cách công khai và do đó có cả sự
CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Václav Havel
QUYỀN LỰC
CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Chủ trương: Mở Miệng
Liên lạc: nxbgiayvun@yahoo.com
Quyền lực của kẻ không quyền lực
Tập tiểu luận chính trị của Václav Havel
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Giấy Vụn xuất bản lần thứ nhứt tại Huê Kỳ
Khổ 13x20,5cm
In xong giữa năm 2013
Chịu trách nhiệm xuất bản: Bùi Chát
Bìa: Trần Kiến Quốc
Hình bìa: Phác thảo tượng đài Václav Havel của Barbora Doušová
Trình bày: Giấy Vụn
Bản quyền bản dịch tiếng Việt © 2013, Giấy Vụn,
Phạm Nguyên Trường, Nhóm Văn Lang.
MỤC LỤC
Giới thiệu
Václav Havel: Ước mộng và vỡ mộng................. 009
Petr Pithart
Thế kỷ hai mươi của Havel...................................021
Václav Bělohradský
Václav Havel
Bàn về ngôn từ....................................................... 033
Chính trị và lương tâm......................................... 057
Quyền lực của kẻ không quyền lực..................... 093
Thư gửi ông Husák................................................ 231
Về ý nghĩa của hiến chương 77........................... 285
Phụ lục
Tuyên ngôn Hiến chương 77............................... 319
Ghi chú về bản dịch .................................................. 329
VÁCLAV HAVEL: ƯỚC MỘNG VÀ VỠ MỘNG
Petr Pithart
V
áclav Havel được khắp nơi trên thế giới biết đến,
nhưng có lẽ chỉ như một huyền thoại: “Nhà
triết học trên ngai”; “Người tù chỉ một năm thành tổng
thống”… Và chắc là những lời có cánh của ông “Sự thật
và tình yêu phải chiến thắng dối trá và hận thù” cũng
được biết đến.
Đã hơn một năm từ ngày ông mất và 23 năm kể từ
“năm tháng kỳ diệu” (1989) và chúng ta biết chắc chắn
rằng sự thật và tình yêu hiện chưa chiến thắng, thậm
chí không chiến thắng, và chúng ta trở lại với những bài
luận lớn của ông. Từ bây giờ tôi sẽ cùng các bạn, những
người bạn Việt. Ông đã nghĩ như thế nào về tất cả những
điều đó? Thời đó, chúng tôi đã đọc ông như thế nào? Và
ngày nay chúng ta đọc ông ra sao? Có giống nhau không?
Chúng ta đã rút được kinh nghiệm từ sự vỡ mộng? Mấy
chục năm trước, chúng ta đọc những bài luận của ông
10
Quyền lực của kẻ không quyền lực
trước hết như là những bài phê bình chế độ dưới thời
bình thường hóa1, phê bình mối tương quan trong Tiệp
Khắc bị chiếm đóng dưới chính phủ của Gustav Husak.
Ngày nay, chúng ta giàu kinh nghiệm hơn trong những
việc gì? Có phải ngay từ ngày đó Havel đã không còn
niềm tin với nền dân chủ nghị viện? Với ý nghĩa của việc
thành lập các đảng phái chính trị? Chúng ta vốn biết,
trong các bài viết của ông có những đoạn phê bình như
thế. Hôm nay chúng ta sẽ quay về chính những đoạn đó.
Và chúng ta tự hỏi, sự hoài nghi của ông ngày đó vốn chỉ
là những ám chỉ, phải chăng đã được khẳng định.
Ở đây tôi sẽ không tự đặt những câu hỏi to tát và quá
to tát, ví dụ, liệu có phải chủ nghĩa tư bản hiện nay đang
trong cơn khủng hoảng, liệu có phải nền văn minh Tây
Âu đang không có lối thoát. Chính tôi cũng không biết trả
lời những câu này. Những câu hỏi của tôi sẽ thực tế hơn.
Khi Havel viết những bài luận lớn của mình, chắc
chắn ông không tính đến việc chủ nghĩa cộng sản, đầy
mệt mỏi, thiếu thuyết phục và sáo mòn sẽ sụp đổ một
cách nhanh chóng và dễ dàng đến thế, bởi vì cũng như
chủ nghĩa cộng sản, người dân Tiệp Khắc cũng mệt mỏi
và trơ mòn, và cũng hệt như chủ nghĩa cộng sản, họ cũng
chẳng hề chắc chắn cái gì sẽ phải đến tiếp sau chủ nghĩa
“Bình thường hóa” là tên gọi chính thức cho việc thanh lọc
trong đảng cộng sản, việc sa thải công nhân viên, việc lập lại chế
độ kiểm duyệt, và đóng cửa các hội đoàn, các tổ chức chính trị
và phi chính trị, và các biện pháp gây áp lực khác, sau khi những
cải cách cởi mở của mùa xuân Praha 1968 nhằm thúc đẩy nhanh
quá trình dân chủ hóa, bị quân đội các nước khối Varsava đàn áp.
1.
Václav Havel
11
cộng sản. Quả thật, chúng ta còn không đặt được đúng
tên cho mối tương quan mà chúng ta đã sống ở trong đó.
Nó đã và vẫn đang được gọi là “chế độ độc tài toàn trị”,
thỉnh thoảng còn là “toàn trị”, nhưng những người biết
suy xét đều biết rõ, chế độ độc tài toàn trị, sự khủng bố
đã có mặt ở đây khoảng những năm 1948 – 1953. Nhất
là sau “mùa xuân Praha” và sau khi đất nước bị chiếm
đóng vào tháng Tám năm 1968, chẳng một ai, thậm chí
cả những người đại diện cho chế độ cũng chẳng hề tin
những điều mà chính họ hô hào., nói gì đến việc thuyết
phục dân chúng bằng cách khủng bố. Vì thiếu một khái
niệm khác xác thực hơn, Václav Havel đã nói về chế độ
“hậu toàn trị”.
Ngày nay chúng ta biết, rằng chế độ ấy đã trụ được
một thời gian dài như thế cũng là do luôn được thị trường
xám2, vốn đã qua nhiều chịu đựng, “cải thiện”, “duy trì
tiếp nước” . Tôi nghĩ, người dân của tất cả các chế độ suy
sụp, tự xưng là xã hội hay cộng sản chủ nghĩa, đều có rất
nhiều kinh nghiệm với thị trường này. Một thị trường
không được thừa nhận, luôn tìm được những kẽ hở cho
mình, nhưng đó là thị trường vô nguyên tắc, không thuế
má và không sổ sách chứng từ. Đó là một thị trường hư
hỏng, trong bản chất là tham nhũng.
Khác với thị trường Đen là những hoạt động kinh tế trái phép
và rõ ràng là phi pháp, thị trường Xám nằm đâu đó giữa ranh giới
trắng và đen. Những hoạt động của nó vi phạm những lề thói đạo
đức, luân lý thông thường, nhưng hầu như ko thể chứng minh nó
vi phạm luật pháp (theo wikipedia)
2.
12
Quyền lực của kẻ không quyền lực
Khi chế độ sụp đổ (và cùng với Havel, tôi đã có mặt
trực tiếp ở đó, chúng tôi cùng nhau thương lượng với các
đại diện của bên chính quyền đang từ chức), chúng tôi
ngạc nhiên bởi nhà cầm quyền rất nhanh chóng rút lui.
Điều đó dẫn tôi đến một việc là tháng Giêng năm 1990
tôi đã công khai tuyên bố, rằng năm 1989, chẳng có cuộc
cách mạng nào xảy ra, chẳng qua chỉ có mỗi việc chuyển
giao quyền lực theo thỏa thuận. Tôi tuyên bố điều đó
cũng là vì muốn làm tan bớt những chờ đợi căng thẳng.
Nhưng chính trong tuyên bố đó có chứa một liều lượng
đáng kể của sự vỡ mộng. Lại có lần Václav Havel đã nói
về sự cần thiết phải kết thúc cuộc cách mạng, lần khác lại
nói về sự cần thiết của “cuộc cách mạng thứ hai”. Cả hai
chúng tôi ngày đó đã sớm bị thất vọng: những mối tương
quan cũ đã lại quay trở lại trong bộ áo choàng mới dễ
được chấp nhận theo kiểu lối sống tiêu thụ. Dân chủ tuy
đã được thực hiện, nhưng sao đó trống rỗng.
Cụ thể việc đã xảy ra là tham nhũng “nhỏ” kiểu xã hội
chủ nghĩa đã chuyển thể biến thành tham nhũng lớn tư
bản chủ nghĩa. Những người vốn thành thạo trong tham
nhũng nhỏ kiểu xã hội chủ nghĩa kia, đã thành công cả
trong chuyện tham nhũng lớn tư bản chủ nghĩa nọ – họ
có quan hệ, được đặc quyền tiếp cận thông tin, đã là bộ
phận của một mạng lưới những mối quan hệ đầy thế lực.
Điều này đã hiển hiện rõ rệt trong vòng chưa đầy 10
năm từ sau tháng Mười một năm 1989, khi hai đảng
phái chính trị lớn nhất – một tả và một hữu – đã thỏa
thuận với nhau, rằng dù bất cứ đảng nào trong họ sẽ nắm
Václav Havel
13
quyền, đảng kia, về mặt hình thức nằm bên phe đối lập,
sẽ không bao giờ đòi bỏ phiếu tín nhiệm trong quốc hội,
có nghĩa là sẽ đảm bảo việc cầm quyền liên tục (và việc
ăn cắp liên tục) cho đến tận kỳ bầu cử kế tiếp, cho dù có
xảy ra bất cứ chuyện gì. Họ đã xấc xược gọi sự sắp xếp
này “hợp đồng giữa các phe đối lập”, mặc dù thực chất
của nó là loại bỏ phe đối lập khỏi các hoạt động chính trị
thường ngày. Ngoài kỳ bầu cử (bốn năm một lần) không
có điều gì có thể được thay đổi, sửa đổi, đưa vào trật tự.
Ngoài các bộ máy của các đảng phái chính trị, tất cả các
công dân tích cực không thuộc đảng phái và tất cả các hội
đoàn hình thành một cách tự phát (như là các tổ chức
vô chính phủ và nhất là tổ chức dân sự) đều bị loại khỏi
cuộc chơi. “Kẻ nào không trải qua lò lửa của bầu cử, sẽ
không có cách nào khác ngoài im lặng”, người lãnh đạo
phe tả – đảng xã hội dân chủ – đã nói như vậy. Đó là sự
đục ruỗng toàn diện nền dân chủ nghị viện. Thay vì một
đảng có toàn quyền, tuy là hai đảng, nhưng che chắn lẫn
cho nhau tội lỗi của những thành viên của mình, và vì thế
bị buộc chặt với nhau bằng chính khả năng đảng này làm
phương hại đảng kia.
Khi đó cùng với nhiều người khác chúng tôi đã bắt
đầu quay trở lại với những câu viết của Havel về sức
mạnh của những người dân thường và về sức mạnh của
ngôn từ. Trong lần đọc thứ hai, chúng tôi đã đọc ra còn
nhiều điều hơn cả vào thời điểm những bài viết đó xuất
hiện và được lan truyền dưới dạng samizdat.
14
Quyền lực của kẻ không quyền lực
Chúng tôi đã được minh chứng, rằng Václav Havel
chưa bao giờ bị ảo tưởng về chế độ dân chủ nghị viện
kiểu “phương Tây” mà chúng tôi đã cùng ông xây đắp.
Nhưng mà chúng tôi vẫn phải thử!
Ngay cả khi, sau 4 năm, vị tân chủ tịch của đảng dân
chủ xã hội đã từ chối việc tiếp tục thực hiện “hợp đồng
các phe đối lập” trong thực tế, chúng ta vẫn đang sa lầy
trong vũng bùn tham nhũng từ những ngày ấy đến tận
bây giờ: trong vòng chỉ 4 năm, khi hợp đồng có hiệu lực,
đã kịp hình thành những, “hội những người anh em” bền
vững (đấy là Havel gọi nó như thế) của các doanh nhân
và các chính trị gia, không phụ thuộc vào việc họ đến từ
đảng nào trong 2 đảng lớn. Khi đó đã hình thành một cấu
trúc hầu như không đáng kể, tuy nhiên cực kỳ có thế lực
mà khó lật tẩy vô cùng. Thành viên từ hai phái đảng, thay
vì kiểm tra lẫn nhau như các đảng phái chính trị đối lập,
họ cùng thủ thế cờ hòa: các anh biết chúng tôi có chuyện,
nhưng cả chúng tôi cũng biết chuyện bên anh. Cấu trúc
này đã đến tận bây giờ vẫn đang kiểm soát phần quan
trọng đặc biệt là đời sống kinh tế trong cả nước. Quyền
lợi kinh tế tư nhân thấm qua và ảnh hưởng tới chính trị,
ngay cả khi chưa bị đe dọa bởi thế mạnh của các công ty
đa quốc gia trong thế giới đang được toàn cầu hóa. Tôi
luôn cho rằng, trước khi bắt đầu vật lộn với các vấn đề
lớn do quá trình toàn cầu hóa mang lại, chúng ta phải
thử đưa các cơ chế kiểm tra dân chủ vào hoạt động. Phải
thử mặc dù ý thức được những hạn chế của công việc
kiểm tra .
Václav Havel
15
Chống lại chính phủ của những hội đoàn những người
anh em, những người muốn thay đổi cả hệ thống bầu cử
để hợp đồng của hai đảng nắm quyền sẽ không bao giờ
bị điều gì phá ngang kế hoạch của họ, Václav Havel và
những người thân cận với ông đã dùng những công cụ
sẵn có của nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Tòa án Hiến
pháp3. Điều đó là nhờ Hiến pháp đã ra đời chỉ 2 năm
sau khi chính quyền thay đổi, có chứa những nguyên tắc
chính là bộ phanh chống lại việc đục ruỗng nền dân chủ
bằng những thủ thuật theo kiểu chủ nghĩa bán-mua4 . Tôi
chưa mất lòng tin vào nhà nước pháp quyền, ngay cả khi
tôi không nghĩ, rằng chính lòng tin phải bảo vệ được nền
dân chủ đến cùng và dựng được một bờ đê không thể
thẩm thấu đối lại với sự tham nhũng.
Václav Havel mãi về sau mới coi nhà nước pháp quyền
như một lý tưởng và như một cố gắng thực hiện lý tưởng
đó. Là Tổng thống, ông dành nhiều quan tâm cho Toà
án Hiến pháp, thành viên của tòa án này cả hai lần đã do
ông đề cử (sau mười năm) và những đề cử của ông đều
rất tốt. Đến tận bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục hưởng lợi
Tòa án Hiến pháp là một cơ quan tư pháp để bảo vệ việc thực
thi Hiến pháp. Trách nhiệm và thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp
được xác định trong chính Hiến pháp của Cộng hòa Séc.
3.
Chủ nghĩa bán-mua (Clientelism), chủ nghĩa khách hàng ngày
nay được hiểu là mối quan hệ, khi người chức trách và người
khách hàng muốn có được hợp đồng của chính phủ cùng có chung
quyền lợi riêng, họ bảo vệ lẫn nhau, và trong việc bảo vệ và được
bảo vệ này, họ được lợi về mặt kinh tế. Chủ nghĩa bán-mua thực
chất là một dạng tham nhũng (theo wikipedia)
4.
16
Quyền lực của kẻ không quyền lực
từ đội ngũ tòa án đã được ông sắp xếp rất tốt. Tuy nhiên,
chẳng bao lâu nữa cả nhiệm kỳ mười năm lần thứ hai của
những vị quan tòa cuối cùng do Havel đề cử sẽ kết thúc.
Hoàn toàn có thể nói rằng, Václav Havel càng ngày
càng đánh giá cao các tổ chức độc lập, nghĩa là các tổ chức
mà các đảng phái chính trị chỉ có thể gây ảnh hưởng một
cách gián tiếp (ví dụ chính Tòa án Hiến pháp, mà thành
viên của họ do Tổng thống đề cử và Thượng Nghị viện
phê duyệt, chỉ chịu một phần ảnh hưởng của Thượng
Nghị viện. Nhưng cả như Hội đồng Ngân hàng, Viện
kiểm sát tối cao, Người bảo vệ quyền lợi cho công chúng5
và các tổ chức khác, xuất thân từ các cơ quan được bầu
ra, nhưng những quyết định của họ không phụ thuộc vào
những cơ quan đó). Điều đó có nghĩa là, Havel không
phủ nhận tính đa nguyên chính trị dưới hình thức các
đảng phái chính trị, ông chỉ làm rõ hơn cho chính mình
quan niệm về ý nghĩa, về các khả năng của các đảng phái
chính trị.
Và chúng ta hãy đừng quên rằng mãi sau năm 1989,
Václav Havel mới phát triển quan niệm của mình về ý
nghĩa cơ bản của một xã hội dân sự được phát triển nhất
một cách có thể. Thiếu nó, các đảng phái chính trị sẽ khô
cằn, chết mòn và thoái hóa.
Ombudsman:Bảo vệ các cá nhân trước cách đối xử của các cơ
quan công sở và các tổ chức khác, nếu cách đối xử này mâu thuẫn
với luật pháp và không tuân theo nguyên tắc dân chủ của nhà nước
pháp quyền và của một ban quản lý tốt, hoặc khi các cơ quan công
sở vô dụng (Theo trang Ombudsman).
5.
Václav Havel
17
Ngay cả quãng cuối đời, thái độ nghi ngờ của Havel
đối với nền dân chủ nghị viện không phải là tuyệt đối. Các
đảng phái chính trị, bị kẹp trong nhà nước pháp quyền
(“rule of law”6) và được nuôi sống bởi lớp mô dày đặc là
các tổ chức dân sự, trước hết có ý nghĩa như là một cơ chế
kiểm soát. Ngày nay câu hỏi sẽ là, liệu những khiếm khuyết hiển nhiên của chế độ này có thật nghiêm trọng đến
mức đã đến lúc phải tìm và tìm cho ra một chế độ nào đó
khác, có hiệu lực hơn và công bằng hơn. Trong bài viết thứ
hai, Vaclav Belohradsky, người giới thiệu cho tuyển tập
này, có suy nghĩ như vậy. Tôi vẫn luôn luôn tin vào hiệu
lực của những qui tắc được đưa ra một cách thấu đáo, và
những tổ chức được xây đắp một cách đáng tin cậy.
Tôi nghĩ, sau năm 1989, thái độ nghi ngờ của Havel đối
với cơ chế truyền thống của nền dân chủ nghị viện, có sâu
sắc hơn trong một số tác phẩm, tuy nhiên trong tác phẩm
khác ông chững lại: ông hiểu ra, mặc dù nền dân chủ nghị
viện là cách quản lý rất không hoàn thiện, nhưng bởi vì, cả
về sau này, cần phải tính đến rằng, xã hội toàn những con
người cũng rất không hoàn thiện, vì thế ít ra nền dân chủ
không hoàn thiện này và những con người không hoàn
thiện kia, vẫn có thể sống cùng nhau một thời gian nữa.
Và ít nhất là ngăn chặn được điều xấu nhất.
Nhà nước pháp quyền, với định nghĩa căn bản nhất là không
có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân theo pháp
luật. Một nguyên tắc bắt nguồn một cách logic từ ý tưởng cho rằng
sự thật, cũng như luật, đều dựa trên những nguyên tắc căn bản có
thể được phát hiện ra nhưng không thể được tạo ra theo ước muốn.
(theo wikipedia)
6.
Quyền lực của kẻ không quyền lực
18
Tôi những muốn nói, rằng thái độ nghi ngờ thận trọng
và đồng thời mối hy vọng còn sót lại, có lẽ có thể thể hiện
trong mệnh thức sau: làm sao cho mai này không phải
vì thật nhiều hạnh phúc cho thật nhiều người, mà phải
làm sao cho mức độ bất công và đau khổ là nhỏ nhất. Tôi
nghĩ, với tất cả thái độ phê phán đối với nền văn minh
hiện đại, Havel ngày nay sẽ ký tên dưới câu này.
Cuối cùng tôi muốn nói, rằng sự quan tâm của các
bạn với Václav Havel của chúng tôi là niềm hân hạnh và
sự động viên lớn đối với tôi.
* Về tác giả:
Petr Pithart (2.1.1941) gia nhập Đảng Cộng sản
Tiệp Khắc từ năm 1960 và tự xin ra khỏi đảng vào năm
1968. Ông ký Hiến chương 77 ngay từ đợt đầu và tham
gia phát hành tư liệu cấm dưới thời cộng sản (samizdat).
Năm 1989 ông tham gia hoạt động và là thành viên ban
điều hành Diễn đàn Công dân. Sau thông báo ứng cử
chức Tổng thống của Václav Havel, tức là vào giữa tháng
mười hai năm 1989, Petr Pithart đã thay thế Havel trong
việc điều hành Diễn đàn Công dân. Sau đó ông làm Thủ
tướng trong hai năm rưỡi (còn trong thời kỳ liên bang
Tiệp Khắc) và sau nữa, ông là chủ tịch Thượng Nghị viện
trong Quốc hội Cộng hòa Séc. Từ tháng mười năm 2012
ông rời bỏ chính trường và hiện đang giảng dạy tại khoa
Luật trường ĐH Tổng hợp Charles Praha.
Václav Havel
19
Bài được viết riêng cho tập tiểu luận Quyền lực của kẻ
không quyền lực trong lần dịch và giới thiệu sang tiếng
Việt bởi nhà xuất bản Giấy Vụn.
THẾ KỶ HAI MƯƠI CỦA HAVEL
Václav Bělohradský
Đ
iều mà chúng ta vẫn gọi là “lịch sử phương Tây”
là một cuộc xung đột không ngừng giữa những
bậc tiên tri và những người chức sắc thực hiện sứ mệnh
của các bậc tiên tri, giữa các ý tưởng và các bộ máy thi
hành ý tưởng ấy. Chúng ta đã tạo ra các cơ cấu để có thể
biến những mục tiêu của cuộc sống thành hiện thực một
cách hợp lý, không phụ thuộc vào sở thích của mọi cá
nhân. Tuy nhiên những cơ cấu một khi đã được tạo ra
luôn tìm cách thay thế nhiều những mục tiêu khác nhau
của cuộc sống bằng một mục tiêu duy nhất – sự tự tái
sinh. Các cơ cấu này được thần thánh hóa, trong những
cẩm nang chính thức chúng giới hạn một cách diễn giải
trung thành với lý tưởng chống lại cách diễn giải dị giáo,
chúng tổ chức các cuộc thẩm tra và các hội đồng chuyên
môn; cơ cấu tự nó còn có ngôn ngữ riêng của mình mà
Havel đặt tên la ptydepe. Những câu chữ được viết bằng
22
Quyền lực của kẻ không quyền lực
thứ ngôn ngữ của cơ cấu này được công bố như “những
sự thật khách quan” và được công an ngôn ngữ bảo vệ. Cả
thế kỷ hai mươi là thế kỷ đậm màu sắc Kafka, bởi vì chính
những cơ cấu mà chúng ta đã tạo ra nhằm giải phóng ý
tưởng khỏi sự phụ thuộc vào định mệnh không thể lường
trước của những người đã phát hiện và phát minh chúng
cũng như khỏi sự phụ thuộc vào ý chí của họ, đã nuốt
chửng các thế giới trong cuộc sống của chúng ta. Những
gì còn lại chỉ là những thế giới riêng tư được trang bị đầy
đủ để chúng ta trốn vào đó trước sự trống rỗng của thế
giới chung. Càng ngày những thế giới riêng tư này càng
giống những cabin mô phỏng, như khi chúng ta học lái ô
tô: chúng ta chẳng đi tới đâu, chỉ có những cảnh quan ảo
chạy trước màn hình và chúng ta xử lý các tình huống ảo.
Tất cả các cơ cấu đều có một điểm chung: chúng trấn
áp câu hỏi về ý nghĩa như là một vấn đề mang tính phá
hoại, bởi vì nó làm cản trở việc tự tái sinh của cơ cấu.
Trong thời đại tự vận động câu hỏi về ý nghĩa lại trở về
với cuộc sống của chúng ta như một ý chí được sống trong
sự thật. “Sự thật” ở đây có nghĩa là “sống phù hợp với
những kinh nghiệm của chính mình”, không hợp tác với
sự giả dối đang chiếm lĩnh không gian công cộng – từ
việc quảng cáo, đến các khẩu hiệu do các dịch vụ truyền
thông và ngành công nghiệp giải trí, các bộ máy đảng
phái hay do văn hóa nguồn vốn tư nhân tài trợ đặt ra.
Václav Havel
23
Nhà bất đồng chính kiến
chứ không phải là người chống cộng
Václav Havel – nhà bất đồng chính kiến đã không thấy
trong nền dân chủ phương Tây một lối thoát nào sâu sắc
hơn. Ông khẳng định rằng nó chỉ che đậy khéo léo hơn
trước con người tình trạng khủng hoảng và do đó còn
nhấn con người chìm trong đó sâu hơn. Và cuối cùng,
chẳng phải sự ảm đạm và trống rỗng của cuộc sống trong
hệ thống hậu toàn trị là bức biếm họa sắc nét của cuộc sống
hiện đại nói chung và chẳng phải chúng ta…, trên thực tế,
chính là lời cảnh báo cho phương Tây vạch ra xu hướng
phát triển tiềm ẩn của chính phương Tây?– Ông đã viết
như vậy.
Chúng tôi đã phải quay lại câu này mỗi khi thảo luận
về vai trò của các nhà bất đồng chính kiến trong khối
cộng sản nhân bản dịch quyển Quyền lực của kẻ không
quyền lực ra tiếng Ý (có lẽ là bản dịch đầu tiên ở Châu
Âu). Chúng tôi không thấy họ “chỉ” là những kẻ chống
cộng mà là nhóm những người cùng chí hướng chống lại
một kẻ thù chung, chống lại sự tự vận động của những cơ
cấu mang tính toàn cầu và những mật mã không thể phá
được của những cơ cấu ấy. Quá trình toàn cầu hoá bắt
đầu, các nghị viện đã biến thành chốn hậu trường, quyền
lực chuyển dần đi khỏi những trung tâm có thể quan sát
được của nó; những cơ cấu cấp vệ tinh và bộ máy cảnh
sát kỹ thuật quan liêu của chúng đã thao túng được một
hệ thống mà chúng ta gọi là dân chủ chỉ vì theo quán
tính. Những thế lực không khoan nhượng với quá khứ
24
Quyền lực của kẻ không quyền lực
đã nắm toàn bộ quyền lực. Chiến tranh lạnh giữa chủ
nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã chỉ là một trong
những hình thức của quá trình, trong đó chủ nghĩa tư
bản toàn cầu đã thắng chủ nghĩa tư bản dân chủ.
Chúng ta đã gọi sự ảm đạm và trống rỗng của hệ
thống hậu toàn trị bằng từ bình thường hóa1; chúng ta
hãy đặt tên cho xu hướng phát triển tiềm ẩn của phương
Tây, mà trong mắt của Václav Havel, bình thường hóa là
lời cảnh báo cho xu hướng phát triển ấy, bằng thuật ngữ
bình thường hoá cấp vệ tinh. Đó là tình trạng, khi quyền
tự do của cá nhân không là gì khác ngoài một hệ thống
các lối thoát hiểm dẫn về những thế giới của riêng tư vô
cùng đa dạng; và trong đó quyền lực không cần phải tỏ
rõ sự chính danh của mình trước những người đi tìm ý
nghĩa của việc họ đang làm.
Cùng với Václav Havel, tôi nghĩ, chúng ta đã mai táng
cả niềm hy vọng rằng bất đồng chính kiến – cuộc tranh
luận trong không gian công cộng về ý nghĩa – sẽ đánh thức
xã hội dân chủ bước vào một cuộc sống mới, rằng bất đồng
chính kiến sẽ là một sức mạnh mới tạo nên lịch sử.
“Bình thường hóa” là tên gọi chính thức cho việc thanh lọc
trong đảng cộng sản, việc sa thải công nhân viên, việc lập lại chế
độ kiểm duyệt, và đóng cửa các hội đoàn, các tổ chức chính trị
và phi chính trị, và các biện pháp gây áp lực khác, sau khi những
cải cách cởi mở của mùa xuân Praha 1968 nhằm thúc đẩy nhanh
quá trình dân chủ hóa, bị quân đội các nước khối Varsava đàn áp.
1.
Václav Havel
25
Hậu dân chủ theo kiểu Havel
Hậu quả nghiêm trọng của toàn cầu hóa là cuộc đấu
tranh cho ý nghĩa đã không còn là động lực chính danh
cho các quyết định chính trị. Câu hỏi về tính chính danh
bị coi nhẹ dần trong xã hội, chỉ quyền lực là có thực –
nó lập nên những quan hệ mới, nó len lỏi vào thế giới
và làm thay đổi thế giới mà không cần chúng ta đồng ý;
chính trị không còn hướng tới ý nghĩa của quyền lực mà
chỉ hướng tới hiệu quả kỹ thuật của quyền lực. Nó đi tìm
những vùng đất mới để tự tái sinh, nó xâm thực những
lãnh địa mới của cuộc sống, nó trở thành “quyền lực sinh
học”. Niềm tin của Havel rằng “khi có sự tranh giành
quyền lực một cách công khai và do đó có cả sự
 






Các ý kiến mới nhất