THẦY, CÔ THƯỞNG TRÀ

LY CÀ PHÊ VỊ ĐƯỢM

Liên kết website

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GD

CÁC ĐƠN VỊ THUỘC PHÒNG

Tài nguyên dạy học

TIN TỨC GIÁO DỤC

Điều tra ý kiến

Bạn truy cập trang web của Câu lạc bộ Violet Hải Dương là nhằm mục đích
Giao lưu, học hỏi, giúp đỡ đồng nghiệp.
Thư giãn sau các giờ căng thẳng.
Chỉ để tải tài liệu của CLB.
Xây dựng cộng đồng Violet Hải Dương đoàn kết, thân ái.
Một lí do khác.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Khách đến Câu lạc bộ

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Câu lạc bộ Giáo viên Hải Dương.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    HÁT ĐỂ CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    SKKN Bồi dưỡng năng lực giải toán cho học sinh THPT qua các bài toán giải phương trình vô tỉ bằng kĩ thuật nhân liên hợp

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Sưu tầm và giới thiệu
    Người gửi: Đỗ Văn Mười (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:17' 06-01-2018
    Dung lượng: 918.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người

    Bồi dưỡng năng lực giải toán cho học sinh THPT qua các bài toán giải phương trình vô tỉ bằng kĩ thuật nhân liên hợp .


    1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
    Phương trình vô tỉ là phần kiến thức quan trọng trong chương trình toán học phổ thông. Nó thường xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi, đề thi Đại học – Cao đẳng . Thực trạng dễ thấy là phần lớn học sinh lúng túng trong quá trình tìm ra lời giải. Nguyên nhân là vì:
    Thứ nhất, phương trình vô tỉ là mảng kiến thức phong phú và khó, đòi hỏi học sinh phải nắm vững nhiều kiến thức, phải có tư duy ở mức độ cao và phải có năng lực biến đổi toán học nhanh nhẹn, thuần thục.
    Thứ hai, sách giáo khoa trình bày phần này khá đơn giản: chỉ có 1 tiết lí thuyết và 1 tiết luyện tập. Do vậy, giáo viên không có đủ thời gian để đưa ra được nhiều bài tập cũng như phương pháp giải để hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh.
    Thứ ba, đa số học sinh đều học tập một cách máy móc, theo kiểu “lắp ráp” công thức, do đó chỉ biết làm những dạng đơn giản. Học sinh chưa có thói quen tổng hợp kiến thức, tổng quát bài toán nên chỉ cần thay đổi một chút trong đề bài là đã gây không ít khó khăn cho các em.
    Có rất nhiều phương pháp giải phương trình vô tỉ, mỗi phương pháp đều đem lại hiệu quả nhất định cho việc bồi dưỡng năng lực giải toán cho học sinh, Tuy nhiên, tôi quyết định chọn nội dung nghiên cứu cho sáng kiến của mình là: Bồi dưỡng năng lực giải toán cho học sinh THPT qua các bài toán giải phương trình vô tỉ bằng kĩ thuật nhân liên hợp.
    2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:
    Điều kiện: nhà trường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học, giáo viên cần đầu tư thời gian soạn giảng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
    Thời gian áp dụng sáng kiến: các năm học 2013 – 2014, 2014 – 2015 và 2015 – 2016.
    Đối tượng áp dụng sáng kiến: học sinh THPT.
    3. Nội dung sáng kiến:
    Chỉ ra các kiến thức liên quan đến chủ đề giải phương trình vô tỉ trong chương trình môn toán THPT.
    Phân chia kĩ thuật nhân liên hợp thành các dạng: Tiến hành ghép cơ bản, ghép căn với số, ghép căn với nhị thức dạng ax + b. Ở mỗi kỹ thuật đều đưa ra các ví dụ áp dụng từ dễ đến khó.
    Chỉ ra khả năng áp dụng của sáng kiến trong thực tế giảng dạy: có thể tiến hành dạy cho học sinh trong các tiết ôn tập, rèn kĩ năng giải phương trình vô tỉ, các buổi bồi dưỡng học sinh giỏi, các buổi ôn thi Đại học...Việc áp dụng sáng kiến vào thực tế giảng dạy đã đem lại hiệu quả cao cho việc học tập của học sinh và việc giảng dạy của giáo viên.
    Điểm mới của sáng kiến là sự phân loại kĩ thuật nhân liên hợp phù hợp với tư duy của học sinh. Mỗi ví dụ đưa ra có sự phân tích, dẫn dắt và điều đặc biệt là chỉ ra cho học sinh tìm ra cái “gốc” của bài toán.
    4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
    4.1. Giá trị đạt được của sáng kiến:
    Trang bị cho học sinh một kĩ thuật giải phương trình vô tỉ mang lại hiệu quả rõ nét; bồi dưỡng cho học sinh về phương pháp, kỹ năng giải toán. Qua đó, nâng cao khả năng tư duy, khả năng sáng tạo cho học sinh.
    Bản thân tôi cũng như nhiều đồng nghiệp và các em học sinh có thể sử dụng nội dung sáng kiến làm tài liệu để ôn luyện cho học sinh khối THPT trong các kỳ thi cuối kỳ, thi học sinh giỏi, thi Đại học – Cao đẳng.
    4.2. Kết quả đạt được:
    Việc áp dụng sáng kiến vào giảng dạy đã đem lại hiệu quả tích cực cho việc học tập của học sinh. Đối chứng trước và sau khi áp dụng sáng kiến trên các lớp học thông qua quan sát việc học tập của học sinh và qua các bài kiểm tra cho thấy kết quả học sinh ngày càng tiến bộ.
    5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng sáng kiến:
    Đối với các cấp quản lý, nên động viên, khuyến khích giáo viên tích cực viết và áp dụng sáng kiến vào thực tế giảng dạy; với các sáng kiến tiêu biểu nên tổ chức nhân rộng, phổ biến cho giáo viên học tập và áp dụng.
    MÔ TẢ SÁNG KIẾN
    1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
    Trong chương trình toán THPT, mà cụ thể là phân môn Đại số 10, học sinh đã được tiếp cận với bài toán giải phương
     
    Gửi ý kiến